Tag: văn học

Kinh nghiệm giúp ôn tập tốt môn Văn

Kinh nghiệm giúp ôn tập tốt môn Văn

Về mảng kiến thức tác giả, nên nhớ trong nội dung hạn chế có 5 tác giả được lưu ý sử dụng cho câu hỏi thi thuộc dạng này. Đó là Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tố Hữu và Hồ Chí Minh.

Kinh nghiệm giúp ôn tập tốt môn Văn

Kinh nghiệm giúp ôn tập tốt môn Văn

Những chủ đề cơ bản trong phần nội dung, dạng đề thi cho từng loại câu, dung lượng cần thiết cho mỗi câu hỏi đề thi, làm cách nào để xử lí các dạng câu hỏi tốt nhất.

Để vượt qua những khó khăn, đạt được kết quả như mong muốn, mỗi học sinh cần phải nắm được những bí quyết nào?, nhà giáo Trần Hinh, khoa Văn học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội – ĐH QGHN hướng dẫn giúp thí sinh ôn tập tốt môn Văn.

Thí sinh lưu ý tập trung vào phần văn học Việt Nam từ 1930 trở đi. Trong phần này, yêu cầu đề thi cũng rất cụ thể: học sinh phải nắm vững các kiến thức về giai đoạn văn học, trào lưu văn học, tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh sáng tác để trả lời các câu hỏi dạng câu 2 điểm.

Với câu hỏi thuộc dạng này, thí sinh chỉ cần viết trong khoảng từ 30 đến 50 dòng (hoặc từ 500 đến 600 chữ), tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể của đề và khả năng nhớ và hiểu kiến thức của học sinh. Những bài viết dài dòng cho dạng câu hỏi này hoàn toàn không cần thiết, vì dù thế nào, bài thi cũng không vượt điểm 2, là khung điểm tối đa cho câu hỏi loại này.

Về mảng kiến thức giai đoạn văn học, trong nội dung hạn chế, chỉ có duy nhất một bài học (Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX), nhưng do đây là một giai đoạn dài, có nhiều biến cố và cũng có những đặc điểm riêng, đề thi cũng có thể chia nhỏ chứ không hỏi toàn bộ giai đoạn.

Chẳng hạn, đề thi chỉ kiểm tra sự hiểu biết của học sinh riêng về giai đoạn văn học chống Pháp (từ 1946 đến 1954); hoặc giai đoạn từ 1955 đến 1964; hoặc nữa, đề thi đại học khối D năm 2009, hỏi thẳng vào một đặc điểm quan trọng của giai đoạn văn học 1945-1975: “Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Hãy nêu rõ những nét chính đặc điểm trên. Vì thế, cách ôn luyện tốt nhất cho phần nội dung kiến thức này, nên chú ý vào những kiến thức cốt lõi.

Cụ thể, phần kiến thức giai đoạn văn học, cần nhớ được những ý chính như sau:

– Từ 1946 đến 1954, chủ đề bao trùm là ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi tinh thần đoàn kết và tập trung cho kháng chiến chống Pháp.

– Từ 1955 đến 1964, chủ đề chính là xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Nhân vật trung tâm là người lao động mới và người chiến sĩ giải phóng.

– Từ 1964 đến 1975, văn học chủ yếu tập trung cho kháng chiến chống Mĩ, giải phóng đất nước, chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở cả hai miền Nam, Bắc.

– Từ sau 1975, đất nước thống nhất, văn học vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, đổi mới về quan niệm của nhà văn, cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn được phát huy cao độ. Đặc biệt từ sau năm 1986, văn học Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới. Sự giao lưu, hội nhập với thế giới được đẩy mạnh, góp phần quan trọng trong việc hiện đại hoá văn học nước nhà.

Nhìn chung, khi tiếp xúc với dạng câu hỏi này, học sinh chỉ cần nhớ được những ý cơ bản, trong đó gồm yếu tố bối cảnh xã hội, thành tựu của văn học, tác giả và tác phẩm chính. Mỗi giai đoạn chỉ cần nói được một vài đặc điểm cơ bản là được.

Mảng kiến thức về trào lưu văn học: trong chương trình chỉ có duy nhất bài học: Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh. Đây còn là dạng bài nghị luận văn học. Học sinh có thể thông qua bài học này để nhận biết một bài văn nghị luận văn học nghĩa là như thế nào.

Tuy nhiên, vì vẫn thuộc dạng câu hỏi 2 điểm, chúng ta cũng chỉ cần nhớ và hiểu được tư tưởng cốt lõi của Hoài Thanh, nắm được tinh thần Thơ mới, theo ông là gì? Thơ cũ và Thơ mới khác nhau ở chỗ nào? Hạn chế và đóng góp của cái Tôi Thơ mới?

Về mảng kiến thức tác giả, nên nhớ trong nội dung hạn chế có 5 tác giả được lưu ý sử dụng cho câu hỏi thi thuộc dạng này. Đó là Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tố Hữu và Hồ Chí Minh.

Vì đây cũng là dạng câu 2 điểm, nên khi viết, học sinh cũng phải tự hạn chế dung lượng bài làm của mình. Nên cố gắng viết ngắn, thậm chí bài viết có thể gạch đầu dòng các ý chính mà không bị coi là phạm quy. Tuy nhiên, xung quanh khối kiến thức này, cần phân biệt được hai dạng câu hỏi: hoặc đề chỉ yêu cầu tóm tắt sự nghiệp chính của nhà văn, hoặc hỏi về phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Trong cả hai trường hợp, ta có thể tận dụng các ý của nhau, chẳng hạn, với dạng thứ nhất, nên tập trung kĩ hơn vào các sự kiện ngày tháng, tên tác phẩm, rồi tóm tắt đặc điểm sáng tác; ở dạng thứ hai, nên tập trung nêu đặc điểm phong cách sáng tác của nhà văn, nhưng cũng vẫn cần nhắc qua sự kiện.

Ngoài ra, còn có thể có cả dạng câu hỏi yêu cầu nêu quan điểm nghệ thuật của nhà văn (Quan niệm nghệ thuật của Hồ Chí Minh, Quan niệm nghệ thuật Nam Cao trước cách mạng…); hoặc thông qua một đoạn văn, nhân vật, để phát biểu quan điểm nghệ thuật của nhà văn. Những câu hỏi thuộc dạng này, sách giáo khoa trình bày khá đầy đủ. Học sinh có thể tham khảo trong đó.

Về mảng kiến thức tác phẩm, có ba dạng chính học sinh cần phải nắm được để viết bài:

Thứ nhất, với một số tác phẩm, đề thi có thể yêu cầu tóm tắt cốt truyện (Vợ chồng A phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Vợ nhặt…), những chi tiết quan trọng trong tác phẩm (Chi tiết đoạn sông Hương ở thượng nguồn được Hoàng Phủ Ngọc Tường so sánh với hai người phụ nữ, đó là những hình ảnh nào? Nhân vật Huấn Cao dặn dò viên quản ngục điều gì sau khi cho chữ ở tác phẩm Chữ người tử tù? Hoàn cảnh nhân vật Mị nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ trong Vợ chồng A Phủ…), giải thích nhan đề tác phẩm (nhan đề Vợ nhặt, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa…);

Thứ hai, nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của nhà văn (Hoàn cảnh ra đời và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc, Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của Tuyên ngôn Độc lập…);

Thứ ba, nêu một hoặc một vài đặc điểm cơ bản nào đó của tác phẩm đã học (Nét đặc sắc nghệ thuật của Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Việt Bắc…). Phần vận dụng kiến thức viết bài cho dạng câu 2 điểm, thực ra không đòi hỏi kĩ năng nhiều. Chỉ cần học sinh hiểu bài học và biết vận dụng đúng cho từng loại câu hỏi.

Nhà giáo Trần Hinh, khoa Văn học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Theo Thethaohangngay

 

Tìm hiểu một số thao tác lập luận trong văn nghị luận

Tìm hiểu một số thao tác lập luận trong văn nghị luận

Trong thế giới đó nhiều chuẩn mực, lễ nghi trong giao tiếp ngoài đời đã không còn và vì thế những phong cách và cá tính “chính hiệu” đã ra đời. Lướt qua một vài “chat room” ta bắt gặp những cách trình bày, biểu cảm khác lạ của ngôn từ.

Tìm hiểu một số thao tác lập luận trong văn nghị luận

Tìm hiểu một số thao tác lập luận trong văn nghị luận

Cách nhận biết và phân biệt các thao tác lập luận trong văn nghị luận. Đây là dạng bài dễ gây nhầm lẫn nếu học sinh không hiểu rõ.

Một số thao tác lập luận:

1. Thao tác lập luận giải thích:

– Là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề.

– Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm.

– Cách giải thích: Tìm đủ lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa vấn đề đó. Đặt ra hệ thống câu hỏi để trả lời.

Thao tác lập luận phân tích:
-Là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng.

– Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận theo những tiêu chí, quan hệ nhất định.

Thao tác lập luận chứng minh:
– Dùng những bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng.

– Cách chứng minh: Xác định vấn đè chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phù hợp. Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với vấn đề cần chứng minh, sắp xếp dẫn chứng phải lô gic, chặt chẽ và hợp lí.

Thao tác lập luận so sánh:
– Làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong mối tương quan với đối tượng khác.

– Cách so sánh: Đặt đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí, nêu rõ quan điểm, ý kiến của người viết.

Cac thao tac lap luan trong van nghi luan
Thao tác lập luận bình luận:

– Bình luận là bàn bạc, nhận xét, đánh giá về một vấn đề .

– Cách bình luận: Trình bày rõ ràng, trung thực vấn đề được bình luận, đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá là xác đáng. Thể hiện rõ chủ kiến của mình.

Thao tác lập luận bác bỏ:

– Là cách trao đổi, tranh luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai .

– Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý kiến đúng; nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu từng phần.

– Ý nhỏ phải nằm hoàn toàn trong phạm vi của ý lớn.

– Nếu có thể biểu hiện nội dung của các ý bằng những vòng tròn thì ý lớn và mỗi ý nhỏ được chia ra từ đó là hai vòng tròn lồng vào nhau, không được ở ngoài nhau, cũng không được trùng nhau hoặc cắt nhau.

– Mặt khác, các ý nhỏ được chia ra từ một ý lớn, khi hợp lại, phải cho ta một ý niệm tương đối đầy đủ về ý lớn, gần như các số hạng, khi cộng lại phải cho ta tổng số, hay vòng tròn lớn phải được lấp đầy bởi những vòng tròn nhỏ.

– Mối quan hệ giữa những ý nhỏ được chia ra từ cùng một ý lớn hơn phải ngang hàng nhau, không trùng lặp nhau.

Ví dụ minh hoạ

Thao tác giải thích

“Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

( Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)

Thao tác chứng minh

“Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho KH&CN vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho KH&CN đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức KH&CN của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN (kết nối thông tin với mạng Á- Âu, mạng VinaREN thông qua TEIN2, TEIN4,…”

(Khoa học công nghệ Việt Nam trong buổi hội nhập, Mai Hà, Ánh Tuyết

– Theo Báo Hà Nội mới, ngày 16/5/2014-)

“Việc hình thành các mạng xã hội đã tạo điều kiện cho các bạn trẻ được thỏa sức xây dựng một thế giới ảo và một cuộc sống ảo cho riêng mình. Trong thế giới đó nhiều chuẩn mực, lễ nghi trong giao tiếp ngoài đời đã không còn và vì thế những phong cách và cá tính “chính hiệu” đã ra đời. Lướt qua một vài “chat room” ta bắt gặp những cách trình bày, biểu cảm khác lạ của ngôn từ.

Xu hướng phức tạp hóa như một cách để thể hiện sự khác biệt “sành điệu”của giới trẻ: dzui (vui), thoai (thôi), dzìa(về), roài(rồi), khoai(khó) >!< cau có; yêu; :* hôn, ^^, vui v.v. Sự phức tạp còn được thể hiện trong cách trình bày cầu kỳ: “ThiẾu zẮng a e hUmz thỂ shỐng thÊm 1 fÚt jÂy nÀo nỮa” (Thiếu vắng anh, em không thể sống thêm một phút giây nào nữa). Xu hướng này còn phát triển đến mức ngay cả những người “trong cuộc” nhiều khi cũng không thể hiểu hết được những nội dung do những sáng tạo mang nặng tính cá nhân như vậy.

…Trên đây chúng tôi trình bày tóm lược những biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ của giới trẻ ở cả hai môi trường thực – ảo. Những kết quả khảo sát đã phần nào cho thấy thực trạng ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Bên cạnh những nét độc đáo, những sáng tạo đáng ghi nhận vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần có sự can thiệp, chấn chỉnh kịp thời để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt….”

(Ngôn ngữ @ và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)

Thao tác lập luận phân tích

“… Nói tới sách là nói tới trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích lũy truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.

Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những qui luật của nó, hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước khác nhau với những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hóa, những truyền thống, những khát vọng.

Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.

Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận xét mà cũng là một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt”.

( Bàn về việc đọc sách – Nguồn Internet)

Thao tác bình luận
“… Văn hóa ứng xử từ lâu đã trở thành chuẩn mực trong việc đánh giá nhân cách con người. Cảm ơn là một trong các biểu hiện của ứng xử có văn hóa. Ở ta, từ cảm ơn được nghe rất nhiều trong các cuộc họp: cảm ơn sự có mặt của quý vị đại biểu, cảm ơn sự chú ý của mọi người…Nhưng đó chỉ là những lời khô cứng, ít cảm xúc. Chỉ có lời cảm ơn chân thành, xuất phát từ đáy lòng, từ sự tôn trọng nhau bất kể trên dưới mới thực sự là điều cần có cho một xã hội văn minh. Người ta có thể cảm ơn vì những chuyện rất nhỏ như được nhường vào cửa trước, được chỉ đường khi hỏi… Ấy là chưa kể đến những chuyện lớn lao như cảm ơn người đã cứu mạng mình, người đã chìa tay giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn … Những lúc đó, lời cảm ơn còn có nghĩa là đội ơn”.

( Bài viết tham khảo)

“… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Thao tác lập luận so sánh

“Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ” có quan hệ khá chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo, nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những nơi công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ đặt dười chữ Triều Tiên to hơn ở phía trên. Đi đâu. nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Triều Tiên. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lại lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác”. (Chữ ta, bài Bản lĩnh Việt Nam của Hữu Thọ)

Thao tác bác bỏ

“ …Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?

Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:

Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra. …”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Bí quyết giúp học tốt môn Văn

Bí quyết giúp học tốt môn Văn

Đừng xem thường kỹ năng này nhé, nó cực kỳ quan trọng trong việc giúp bạn học tốt môn văn đấy, bởi vì một khi chúng ta đã không có năng khiếu văn chương thì sự cần cù, cách học đúng sẽ giúp bạn chinh phục và học tốt môn văn một cách dễ dàng.

Bí quyết giúp học tốt môn Văn

Bí quyết giúp học tốt môn Văn

Ai cũng có thể học tốt môn Văn nếu nắm được cách học đúng, kỹ năng học hay và 3 bí quyết cơ bản giúp bạn học tốt môn văn dưới đây sẽ giúp bạn chinh phục được môn học này để học tốt hơn và ngày càng yêu môn văn hơn đấy.

Suy nghĩ về môn văn thật đơn giản để học tốt môn văn hơn

Môn văn là môn học vô cùng quan trọng trong tất cả các bậc học, cấp học, là môn thi hiển nhiên, bắt buộc, cần có trong tất cả các kỳ thi cuối kỳ, tốt nghiệp, lên cấp. Trong thực tế, không ít bạn sai lầm khi suy nghĩ rằng môn văn là môn học thiên về năng khiếu nên những bạn không có năng khiếu sẽ không thể học và làm bài thi tốt đối với môn này. Sự thật không hoàn toàn như thế, tất nhiên môn học này sẽ là lợi thế của những bạn có năng khiếu về văn chương, tuy nhiên năng khiếu chỉ là một phần thôi đấy, nếu bạn có cách học tốt môn văn, có quyết tâm chinh phục môn học này, có sự kiên trì, nhẫn nại cần thiết thì việc học tốt môn văn càng trở nên đơn giản hơn bao giờ hết.

Chính vì vậy, đừng bao giờ áp lực cho chính mình, đừng bao giờ nghĩ môn văn quá “khó nhằn” mà mặc kệ nó, mà bỏ cuộc nhé, suy nghĩ như thế chỉ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi với môn học này thôi trong khi nó lại vô cùng quan trọng đối với thành tích học tập của bạn đấy. Hãy suy nghĩ đơn giản rằng môn văn cũng giống như những môn học khác và bạn hoàn toàn có thể chinh phục nó bằng chính khả năng, sự cố gắng, quyết tâm của chính mình. Một tâm lý thoải mái sẽ giúp bạn tiếp cận và học môn văn tốt hơn rất nhiều.

Nắm chắc kiến thức trọng tâm trong từng tác phẩm để học tốt môn văn

Năng khiếu văn chương chỉ giúp bạn cảm thụ tác phẩm tốt hơn, viết nên những lời văn bay bổng hơn nhưng để học tốt môn văn, để được điểm cao trong môn học này thì việc nắm chắc kiến thức trọng tâm từng tác phẩm, viết đúng, viết đủ mới thật sự quan trọng. Đó chính là nền tảng để bạn trả lời các câu hỏi trong đề thi văn, viết bài văn nghị luận tác phẩm văn học một cách đúng nhất, đủ ý nhất.

Đối với mỗi tác phẩm, bạn cần nắm rõ về tên tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, nội dung chính của tác phẩm có sự liên hệ cuộc sống thực tế, những nghệ thuật chính được tác giả sử dụng,… hãy nắm chắc kiến thức trọng tâm của từng tác phẩm, sau đó mới triển khai mở rộng dần nhé.

Để có thể nắm chắc kiến thức trọng tâm từng tác phẩm một cách dễ dàng bạn cần tuân thủ đầy đủ 3 bước cơ bản sau:

– Bước 1: Đọc và soạn bài kỹ trước khi đến lớp, bước chuẩn bị này sẽ giúp bạn tiếp thu bài một cách chủ động và dễ dàng hơn rất nhiều. Đồng thời nó sẽ giúp bạn trả lời được dễ dàng các câu hỏi do thầy cô đặt ra để có thêm động lực học tốt môn văn hơn rất nhiều;

– Bước 2: Chăm chú nghe thầy cô giảng ở lớp và ghi chép cẩn thận, đẩy đủ những kiến thức mà thầy cô truyền đạt vào vở, chỗ nào không hiểu hay còn thắc mắc bạn nên hỏi ngay để có thể nắm được bài ngay trên lớp nhé;

– Bước 3: Học và tự kiểm tra lại kiến thức của mình ngay sau khi về nhà, có thể đọc thêm một số bài văn mẫu liên quan, ghi chú thêm những kiến thức quan trọng, những đoạn văn hay vào vở nhằm tự mình tạo nên một hệ thống tài liệu ôn thi môn văn cho riêng mình để sử dụng cho các kỳ thi sau này nhé.

Hãy học thuộc lòng để học tốt môn văn

Đừng xem thường kỹ năng này nhé, nó cực kỳ quan trọng trong việc giúp bạn học tốt môn văn đấy, bởi vì một khi chúng ta đã không có năng khiếu văn chương thì sự cần cù, cách học đúng sẽ giúp bạn chinh phục và học tốt môn văn một cách dễ dàng.

Chính vì vậy hãy đầu tư thời gian để học thuộc lòng những kiến thức cơ bản, quan trọng của môn văn bao gồm: Từng thời kỳ văn học với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu; tiểu sử, phong cách sáng tác, các tác phẩm quan trọng, nghệ thuật sáng tác của các tác giả văn học tiêu biểu; học thuộc lòng tất cả các bài thơ, các đoạn văn tiêu biểu và nắm được nội dung, nghệ thuật chính trong từng tác phẩm; … đây chính là xương sườn quan trọng giúp các bạn định hướng tốt trong việc ôn tập và triển khai ý khi làm bài thi môn văn đấy.

Đặc biệt, nếu có thể, chỉ học thuộc lòng một số đoạn phân tích tác phẩm, phân tích nhân vật hay trong các bài văn mẫu nhằm có sự vận dụng hợp lý giúp bài văn của bạn có điểm nhấn và ấn tượng hơn đối với người chấm điểm nữa nhé. Nắm chắc kiến thức trọng tâm, học thuộc lòng những nội dung cần thiết sẽ là kỹ năng cơ bản giúp bạn học tốt môn văn và đạt điểm cao với môn học này rồi đấy.

Môn văn sẽ khá dễ dàng đối với những bạn vốn đã có năng khiếu và yêu thích môn học này tuy nhiên nó cũng không quá khó khăn và bạn hoàn toàn có thể học tốt, đạt điểm cao trong môn văn với 3 bí quyết cơ bản giúp bạn học tốt môn văn trên đây đấy nhé. Một chút cần cù, một chút chịu khó cộng với phương pháp, cách học tốt, kỹ năng học hay chính là bí kíp cơ bản để bạn dễ dàng chinh phục môn học “khó nhằn” này đấy. Chúc bạn áp dụng cách học tốt môn văn thành công và luôn đạt điểm cao với môn học quan trọng này nhé.

Theo Thethaohangngay

 

Để đạt điểm cao môn văn thi vào lớp 10

Để đạt điểm cao môn văn thi vào lớp 10

Đối với phần đọc hiểu, lỗi thường gặp là HS trả lời sơ sài, không đủ ý theo yêu cầu đáp án hoặc trả lời lan man dài dòng, mất thời gian không cần thiết.

Để đạt điểm cao môn văn thi vào lớp 10

Để đạt điểm cao môn văn thi vào lớp 10

Để đạt điểm cao môn văn thi vào lớp 10, học sinh phải có kỹ năng làm bài tốt, nắm vững kiến thức chương trình chỉ là một phần để có thể làm được bài.

Để bài làm có điểm cao, học sinh cần lưu ý các mặt sau đây khi ôn tập và làm bài:

Trước hết, cần nắm vững cấu trúc đề thi, hệ thống câu hỏi, cách câu hỏi thường yêu cầu, thang điểm của từng phần, từng câu, những kiến thức cơ bản về tiếng Việt cho phần đọc hiểu, những tác phẩm bắt buộc nào ở phần nghị luận văn học… để chủ động ôn tập. Cần lưu ý đến thời gian làm bài (120 phút) để phân chia hợp lý cho từng phần, tránh dành nhiều thời gian cho phần không cần thiết này mà thiếu giờ để làm phần quan trọng kia…

Đối với phần đọc hiểu, lỗi thường gặp là HS trả lời sơ sài, không đủ ý theo yêu cầu đáp án hoặc trả lời lan man dài dòng, mất thời gian không cần thiết.

Với câu nghị luận xã hội, đề thường yêu cầu viết trong khoảng một trang giấy thi. Vì vậy đòi hỏi phải có kỹ năng tư duy, hiểu biết xã hội để viết bài văn tương đối ngắn gọn. Cách ra đề ở câu này vô cùng phong phú và đa dạng, như bàn luận về một ý kiến, đưa ra một mẩu chuyện, một bài báo, thậm chí là một bức tranh minh họa… để yêu cầu thí sinh nghị luận. Nếu HS hiểu sai, xác định sai vấn đề thì xem như bài làm sẽ lạc đề. Quan sát bài làm của HS nhiều năm, chúng tôi thấy HS còn mắc nhiều lỗi như viết không đúng theo độ dài yêu cầu (quá ngắn hoặc quá dài), viết thành đoạn văn, hiểu sai luận đề hoặc nghị luận chung chung, thiếu sức thuyết phục về chiều sâu tư duy xã hội và kỹ năng hành văn…

Đề thi 3 năm qua trong câu nghị luận văn học đều có các yêu cầu phân tích và so sánh, đối chiếu vẻ đẹp của hai đoạn thơ; phân tích một nhân vật trong tác phẩm văn xuôi từ đó liên hệ với nhân vật trong tác phẩm khác hoặc một điển hình ngoài xã hội. Quan trọng nhất ở phần này là HS phải biết xây dựng một dàn bài hợp lý về bố cục các phần như giới thiệu, phân tích riêng sau đó so sánh điểm giống và khác nhau về nội dung, nghệ thuật, từ đó nhận xét, đánh giá từ việc so sánh và rút ra kết luận.

Đối với 2 câu hỏi nghị luận xã hội và văn học, ngoài phần cho điểm trực tiếp trên hiện thực bài làm theo các ý, thang điểm đáp án còn có những yêu cầu khác như: đảm bảo cấu trúc bài làm, làm rõ được luận đề, sáng tạo của người viết và điểm về chính tả, dùng từ, đặt câu… Những yêu cầu này chiếm một số điểm không nhỏ.

Theo TTHN