Tag: tư vấn luyện thi

Những lỗi cần khắc phục để làm tốt bài thi

Những lỗi cần khắc phục để làm tốt bài thi

Để khắp phục những lỗi này, trước hết, ta phải tập viết đúng cấu trúc ngữ pháp. Khi viết, cần phải chú ý bám sát yêu cầu của đề để xây dựng các ý chính, ý phụ sao cho phù hợp. Có thể kết hợp nhiều kiểu câu như: khẳng định, phủ định, cầu khiến, cảm thán,… và các phương pháp lập luận như: phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận,…

Những lỗi cần khắc phục để làm tốt bài thi

Những lỗi cần khắc phục để làm tốt bài thi

Theo các Thầy/cô chuyên chấm thi THPTQG trong quá trình làm văn, thí sinh vẫn mắc nhiều lỗi. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả bài thi của thí sinh. Vì vậy, để làm tốt bài thi, các thí sinh cần chú ý khắc phục những lỗi sau đây:

1. Viết sai chính tả, dùng từ thiếu chính xác

Lỗi này thường gặp trong bài làm của nhiều thí sinh. Nguyên nhân là do thí sinh hiểu sai nên viết sai hoặc do thói quen viết nhanh, cẩu thả và viết tắt tùy tiện… chẳng hạn: không phân biệt được trường hợp nào dùng “d”, trường hợp nào dùng “gi”, “r”, hoặc nhầm lẫn giữa “n” với “l”, “ch” với “tr”, sử dụng phương ngữ, sử dụng các ký hiệu của các môn học khác vào bài làm như: từ “nước” thì ghi là: H­20 (trong môn Hóa), từ “của” thì ghi là “of”, từ “và” thì ghi là “and” (trong môn tiếng Anh), hoặc thí sinh không viết hoa tên riêng, tên địa danh, đặt dấu câu chưa đúng vị trí,…

Ngoài ra, khi làm bài, thí sinh còn dùng từ thiếu chuẩn xác.Chẳng hạn, cùng một từ mang nghĩa là “chết” ta có các từ đồng nghĩa khác như: mất, qua đời, ra đi, hi sinh, quyên sinh,… tuy nhiên, nhiều thí sinh chưa biết cách chọn từ ngữ phù hợp với văn cảnh, ngữ cảnh. Những lỗi này sẽ làm giảm thiện chí của người chấm và ảnh hưởng đến kết quả bài thi của thí sinh. Vì thế, muốn có một bài văn hay, trước tiên ta phải viết sao cho đúng chính tả. Nên tham khảo cách dùng từ trong sách giáo khoa, trong từ điển tiếng Việt và căn cứ vào ngữ cảnh để dùng từ phù hợp. Bên cạnh đó, có thể tham khảo ý kiến bạn bè, thầy cô trong quá trình học.

2. Lạc đề

Việc lạc đề có nhiều nguyên nhân mà trước hết là do không đọc kỹ đề trước khi làm bài. Trong quá trình học còn chưa chủ động về mặt kiến thức, tình trạng học tủ, học lệch và máy móc, rập khuôn trong quá trình làm bài. Mặt khác có thể do câu hỏi mang tính chất đánh lừa tư duy nhưng thí sinh không nhận ra và dẫn đến làm sai.

Chẳng hạn đề yêu cầu phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, đáng lẽ thí sinh phải chọn những cảnh huống, giai đoạn thể hiện sức sống tiềm tàng của Mị như: trong đêm tình mùa xuân, khi cởi trói cho A Phủ thì lại sa vào phân tích từ đầu đến cuối tác phẩm, thậm chí một số em lại đi vào phân tích nhân vật A Phủ.

Để khắc phục, trước khi làm bài thí sinh phải tìm hiểu đề thông qua thao tác đọc và phân tích đề, sau đó xác lập dàn ý để viết. Trong quá trình tìm hiểu đề, thí sinh phải chú ý đến từ ngữ yêu cầu của đề để phân các dạng đề như: “Hãy chứng minh”, “Hãy phân tích”, “Cảm nhận” , “Bằng việc so sánh… hãy chứng minh nhận định”.

3. Diễn đạt và trình bày lủng củng, thiếu khoa học

Do thiếu kỹ năng trong quá trình viết văn nên nhiều thí sinh hay gặp phải lỗi này. Chẳng hạn: viết câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ; viết câu tối nghĩa, vô nghĩa. Trong quá trình viết, nhiều thí sinh chưa xác định nội dung các ý cần triển khai, tẩy xóa nhiều trong bài thi,… điều này làm cho câu văn lủng củng, bài văn cẩu thả, không mạch lạc, trong sáng.

Mặt khác, kỹ năng trình bày cũng là một thao tác hết sức quan trọng với mỗi thí sinh. Nhiều thí sinh chưa biết cách trình bày một bài văn sao cho mạch lạc, lôgic mà sa vào kể lể, viết tràn lan.

Để khắp phục những lỗi này, trước hết, ta phải tập viết đúng cấu trúc ngữ pháp. Khi viết, cần phải chú ý bám sát yêu cầu của đề để xây dựng các ý chính, ý phụ sao cho phù hợp. Có thể kết hợp nhiều kiểu câu như: khẳng định, phủ định, cầu khiến, cảm thán,… và các phương pháp lập luận như: phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận,… Khi trình bày, cần xác lập dàn ý trước khi làm bài, mỗi một luận điểm ta nên xây dựng các luận cứ và dẫn chứng đi kèm trong một đoạn văn. Khi hết đoạn ta nên xuống hàng và tạo lập một đoạn văn mới để đảm bảo tính mạch lạc và thẩm mỹ.

4. Dẫn chứng không xác thực

Khi làm văn, bên cạnh luận điểm, luận cứ, thí sinh cần phải nêu dẫn chứng đi kèm nhằm tăng tính chặt chẽ và thuyết phục cho người đọc. Tuy nhiên, thí sinh hay quên nêu hoặc sa vào việc nêu dẫn chứng quá nhiều. Điều này làm cho bài văn đơn điệu và thiếu những thao tác như phân tích, chứng minh, cảm nhận,… Một biểu hiện sai sót của thí sinh khi dẫn chứng là trích dẫn chưa chính xác hoặc chưa biết cách trích dẫn. Chẳng hạn: để dấu ngoặc kép tùy tiện, phần trích dẫn câu thơ hoặc lời nói của nhân vật thì quên dấu ngoặc kép, trích dẫn bằng việc đưa ý kiến cá nhân thay thế cho lời của nhân vật hoặc của một người nổi tiếng nào đó,…

Để khắp phục điều này, thí sinh cần có kỹ năng nêu dẫn chứng sau mỗi luận điểm, luận cứ của vấn đề. Nếu trích dẫn phần văn bản hoặc câu nói của một ai đó thì ta nên đưa vào trong dấu ngoặc kép và đảm bảo tính chính xác. Nếu không nhớ chính xác phần trích dẫn thì thí sinh không nên bỏ trong dấu ngoặc kép. Đồng thời, khi nêu dẫn chứng cần có sự lựa chọn và lấy những dẫn chứng có tính điển hình, tránh việc đưa dẫn chứng tùy tiện, tràn lan mà không hiệu quả.

Ví dụ: muốn trích dẫn một vài câu trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân, nếu không nhớ nội dung văn bản thì ta nên học cách ghi nhớ những từ, cụm từ và lồng ghép vào trong câu văn của mình để đảm bảo tính bám sát và triển khai nội dung mạch lạc của bài văn, cụ thể: trên đường đưa người vợ nhặt về nhà, Tràng cảm thấy có cái gì “phớn phở” khác hẳn với ngày thường, hắn cười “tủm tỉm” và đôi mắt sáng lên đầy vẻ “lấp lánh”…

5. Sai kiến thức

Biểu hiện của lỗi này là: hiểu sai về nội dung ý nghĩa tác phẩm, nhần lẫn tên tác giả – tác phẩm, đánh giá chưa đúng về nhân vật, tình huống truyện. Có thể xuất phát từ việc học tủ, học lệch trong quá trình ôn, không đọc tác phẩm, không cảm nhận và phân tích tác phẩm, phụ thuộc vào sách tham khảo, còn mang tâm trạng chây lười, ỷ lại,… mà thí sinh mắc phải lỗi này.

Để khắp phục, thí sinh nên đọc tác phẩm ít nhất 2 – 3 lần, thâu tóm cốt truyện, cấu tứ tác phẩm; nắm rõ tên tác giả, tác phẩm, nhân vật… Bên cạnh đó, cần học tổng thể kiến thức chứ không được chủ quan bỏ sót; đọc kỹ đề trước khi làm bài,…

Theo Thethaohangngay

Những lỗi thí sinh cần tránh khi làm bài thi môn Địa lí

Những lỗi thí sinh cần tránh khi làm bài thi môn Địa lí

Lỗi thứ nhất, học sinh không đọc kỹ đề bài nên các em không xác định đúng yêu cầu đề bài đưa ra, không xác định được nội hàm câu hỏi dẫn đến lạc đề, câu hỏi một đằng, trả lời một nẻo.

Những lỗi thí sinh cần tránh khi làm bài thi môn Địa lí

Những lỗi thí sinh cần tránh khi làm bài thi môn Địa lí

Việc giành điểm cao ở môn Địa là điều không khó nhưng để làm được thì thí sinh cần phải có phương pháp học và bám sát vào cấu trúc đề thi.

Sau nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp THPT, Đại học và bây giờ là kỳ thi THPT Quốc gia môn Địa lý, thầy giáo Lê Quốc Châu (hiện đang là giáo viên trường THPT Cù Huy Cận – Hà Tĩnh) “bật mí” cách làm bài thi môn Địa lý để các sĩ tử giành kết quả cao trong kỳ thi THPT quốc gia tới.

Những lỗi thí sinh cần tránh khi làm bài thi môn Địa lí

Theo thầy Lê Quốc Châu khi làm bài thi thí sinh thường mắc những lỗi sau:

Lỗi thứ nhất, học sinh không đọc kỹ đề bài nên các em không xác định đúng yêu cầu đề bài đưa ra, không xác định được nội hàm câu hỏi dẫn đến lạc đề, câu hỏi một đằng, trả lời một nẻo.

Để học sinh có kỹ năng đọc đề thì giáo viên cũng cần rèn luyện cho các em như:

Lần 1, đọc toàn bộ đề thi, chọn câu dễ làm trước để vừa kiếm điểm vừa không mất thời gian loay hoay với câu hỏi khó.

Lần 2, đọc từng câu.

Lần 3, đọc từng ý.

Mỗi câu, mỗi ý trong cấu trúc đề thi đều tương ứng với một đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa nên thí sinh cần phải đọc kỹ.

Lỗi thứ 2, học sinh thường chủ quan nên để mất điểm ở những câu, những ý dễ, trả lời thiếu ý, sót ý.

Ví dụ:

Câu hỏi lý thuyết, đề bài yêu cầu: “nhận xét tình hình phát triển dân số, tình hình phát triển ngoại thương…”.

Vì đề bài nhắc tới “nhận xét tình hình” nên buộc học sinh phải nhận xét được 2 ý lớn về sự thay đổi số lượng và về sự thay đổi cơ cấu.

Nhưng đa phần, thí sinh chỉ nhận xét về số lượng mà quên nhận xét về cơ cấu.

Câu hỏi thực hành, đề yêu cầu: “vẽ, nhận xét, giải thích các loại biểu đồ..” thì thí sinh thường quên điền số liệu vào biểu đồ, quên ghi năm, tên biểu đồ, quên lập bảng chú giải…

Phương pháp tránh điểm liệt môn Địa lí

Đối với môn Địa lý, để tránh điểm liệt thì học sinh cần chú ý đến câu 3 trong cấu trúc đề thi.

Theo đề thi năm 2015, câu 3 yêu cầu: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học kể tên, xác định sự phân bố các đối tượng địa lí trên bản đồ như: kể tên các tỉnh, các cảng biển, sân bay, các trung tâm công nghiệp, các trung tâm du lịch, các cửa khẩu quốc tế…

Riêng câu hỏi này gồm 2 ý (2 điểm) nên giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam là hoàn toàn yên tâm học sinh tránh được điểm liệt.

Ngoài ra, thí sinh có thể giành điểm ở các câu khác mà không cần học thuộc kiến thức trong sách giáo khoa.

Đó là dạng câu hỏi trình bày, phân tích điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến phát triển một ngành, một vùng kinh tế; giải thích sự phân bố các cây lương thực, cây công nghiệp, vùng chuyên canh lương thực thực phẩm, vùng kinh tế trọng điểm, ngành kinh tế, vùng kinh tế…hoàn toàn dựa vào Atlat để làm bài.

Bí quyết đạt điểm cao môn Địa lý

Theo thầy Lê Quốc Châu, việc giành điểm cao ở môn Địa là điều không khó nhưng để làm được thì thí sinh cần phải có phương pháp học đúng đắn.

Thí sinh cần bám sát vào cấu trúc đề thi để học. Cấu trúc đề thi gồm 4 câu trong đó: 2 câu hỏi lý thuyết về Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế; 1 câu kiểm tra kỹ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam; 1 câu kiểm tra kỹ năng vẽ, nhận xét, giải thích biểu đồ.

Mặt khác, cần tận dụng triệt để Atlat Địa lí Việt Nam – cuốn tài liệu duy nhất được mang vào phòng thi, thí sinh nên dựa vào Atlat để học bởi cả 4 câu hỏi trong đề thi đều có thể sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để làm bài.

Ví dụ, trong câu 1 đề thi hỏi về Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, câu 2 đề hỏi về các ngành, các vùng kinh tế, thí sinh hoàn toàn có thể sử dụng những số liệu trên biểu đồ trong Atlat để làm bài.

Muốn đạt điểm cao ở môn Địa lý, thí sinh cần trấn an tâm lý khi vào phòng thi và kỹ năng làm bài thi: đọc kỹ đề bài, lập dàn ý vào giấy nháp, sử dụng Atlat làm bài, câu dễ làm trước câu khó làm sau, dành 5-10 phút cuối giờ để kiểm tra lại toàn bài…

Một số lưu ý khi sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam:

Thứ nhất, sử dụng nhiều trang Atlat để trả lời 1 câu hỏi đề ra.

Thứ hai, nhận xét các biểu đồ trong Atlat để lấy kiến thức, nhất là phần thực trạng và số liệu.

Thứ ba, đối với các phần kiến thức không có trong Atlat như vai trò, đặc điểm, các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội…thì buộc thí sinh phải học và ghi nhớ trong sách giáo khoa.

Theo Thethaohangngay

Hướng dẫn phân loại các loại câu hỏi trong đề thi THPT Quốc gia

Hướng dẫn phân loại các loại câu hỏi trong đề thi THPT Quốc gia

Phân khúc câu hỏi dễ, cơ bản và quen thuộc (4 – 5 điểm) gồm các kiến thức: Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị hàm số; bài toán phụ khảo sát hàm số: bài toán tiếp tuyến, tương giao, cực trị; phương trình, bất phương trình Loogarit, mũ;

Hướng dẫn phân loại các loại câu hỏi trong đề thi THPT Quốc gia

Hướng dẫn phân loại các loại câu hỏi trong đề thi THPT Quốc gia

Hướng dẫn phân loại các loại câu hỏi trong đề thi THPT Quốc gia năm 2017 và hướng dẫn làm bài từng loại câu hỏi cụ thể như sau:

Đề thi môn Toán THPT quốc gia được chia rõ ràng thành 3 phân khúc:

1. Loại câu hỏi dễ, cơ bản và quen thuộc;

2. Loại câu hỏi cũng quen thuộc, nhưng đòi hỏi phải biến đổi, tính toán;

3. Loại câu hỏi khó,có mức độ tư duy và tích hợp nhiều kiến thức.

Khi ôn tập và làm bài thi, học sinh phải phân loại được 3 loại câu hỏi này; đặc biệt là loại 1 và loại 2, cả về phương pháp, cách trình bày bài toán. Khi làm bài thi, học sinh làm câu dễ trước, làm đến đâu chắc đến đấy. Bí quyết đạt điểm cao là làm đúng các câu làm được, chứ không phải làm được nhiều câu khó.

1. Phân loại câu hỏi dễ, cơ bản và quen thuộc

Phân khúc câu hỏi dễ, cơ bản và quen thuộc (4 – 5 điểm) gồm các kiến thức: Khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị hàm số; bài toán phụ khảo sát hàm số: bài toán tiếp tuyến, tương giao, cực trị; phương trình, bất phương trình Loogarit, mũ;

Giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số trên một đoạn; số phức; nhị thức Niuton, xác suất; tích phân; hình học giải tích trong không gian; lượng giác.

Học sinh yếu, trung bình nên tập trung ôn thi kĩ, cẩn thận các kiến thức, kĩ năng trong phần này trước khi nghĩ đến những phần kiến thức khác.

Phân khúc dễ này chỉ cần ghi nhớ công thức, các dạng bài tập cơ bản là có thể lấy điểm tối đa. Chú ý giành từng điểm trong mỗi bài, dù 0,25 điểm cũng không được bỏ.

Ví dụ, nếu bài xác suất học sinh không làm được trọn vẹn, có thể tính số phần tử không gian mẫu để lấy 0,25 điểm…

2. Phân loại câu hỏi quen thuộc nhưng đòi hỏi biến đổi, tính toán

Phân loại này gồm các kiến thức: Bài toán phụ khảo sát hàm số liên quan đến kiến thức hình phẳng, viet…;

Phương trình lượng giác đòi hỏi biến đổi phức tạp; phương trình, bất phương trình vô tỷ; hình không gian; hình học trong mặt phẳng.

Phân khúc câu hỏi này dành cho những học sinh khá, biết biến đổi, tổng hợp kiến thức và khả năng tư duy tương đối. Các em phải ôn tập kĩ công thức, phương pháp và phải luyện tập nhiều bài tập.

3. Phân loại câu hỏi khó

Phân loại này gồm các kiến thức: Giải hệ phương trình; tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất; chứng minh bất đẳng thức.

Đây là dạng câu hỏi 9, 10 điểm, đòi hỏi tư duy, tổng hợp kiến thức và sự rèn luyện cao.

Với quan điểm ra đề thi như hiện nay, câu tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và chứng minh bất đẳng thức, học sinh cần nắm vững 2 bất đẳng thức cơ bản (Cô-si và Bunhuacopski) cùng với phương pháp hàm số.

Kỹ năng làm bài thi

Khi vào phòng thi, nếu muốn đạt điểm cao học sinh phải hoạch định cho mình chiến lược làm bài, câu dễ làm trước, khó làm sau, làm đến đâu chắc đến đó, theo phương châm chắc – đúng – đủ.

Có ý thức kiểm tra từng bước biến đổi. Làm xong một bài, dành khoảng 2 phút xem lại bài đó, nhất định phải có bước này, đừng đợi làm xong hết mới kiểm tra.

Phân định từng phần, định hướng cách làm rõ ràng. Ghi đáp số, kết luận đầy đủ cuối mỗi bài.

Nếu học sinh đã có hướng làm thì không cần nháp, làm thẳng vào bài thi, lỡ sai thì gách chéo phần sai. Lưu ý không nên dùng bút chì vẽ đồ thị hàm số và khối đa diện.

Học sinh không được đầu tư quá nhiều thời gian vào một bài, nếu suy nghĩ và nháp quá 15 phút nên chuyển bài khác.

Theo Thethaohangngay

Bí quyết để đạt điểm cao kỳ thi quốc gia

Bí quyết để đạt điểm cao kỳ thi quốc gia

Nếu học sinh không mắc lỗi câu, lỗi chính tả, xác định đúng được vấn đề cần nghị luận, mở bài biết dẫn dắt hợp lý và nêu được vấn đề, có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo và thể hiện được quan điểm riêng thì có thể được tối đa 1 điểm (mỗi phần 0,25 điểm).

Bí quyết để đạt điểm cao kỳ thi quốc gia

Bí quyết để đạt điểm cao kỳ thi quốc gia

Học sinh cần phải học toàn diện, nắm chắc các kỹ năng làm các dạng bài tương ứng bài học trong chương trình Ngữ văn, chú ý phân bố thời gian làm bài hợp lý.

Học sinh cần phải học toàn diện, nắm chắc các kỹ năng làm các dạng bài tương ứng bài học trong chương trình Ngữ văn, chú ý phân bố thời gian làm bài hợp lý.

Sau hơn 22 năm đứng trên bục giảng với bộ môn Văn, lại là tổ trưởng bộ môn Văn của trường trung học phổ thông Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh, dưới sự dạy dỗ của cô Lê Kim Mai, học sinh chưa bao giờ nói môn Văn là khô khan.

Trước khi kỳ thi trung học phổ thông quốc gia bắt đầu trong ít tháng tới, cô Mai đã có nhiều hướng dẫn bổ ích, giúp thí sinh đạt điểm cao môn Văn trong kỳ thi quan trọng này.

Nguyên tắc ôn tập: Toàn diện, nắm chắc mục tiêu, cách thức làm bài

Giáo viên hướng dẫn cho học sinh ôn tập, dựa trên bộ đề minh họa, đề thi chính thức của năm 2015. Trong đó, cần thiết phải nhắc học sinh học ôn toàn diện, học mà phải hiểu, nắm vững các kỹ năng làm bài, các dạng bài tập tương ứng với bài học trong chương trình Ngữ văn.

Đặc biệt, cần nhắc nhở học sinh phân bố thời gian làm bài thi hợp lý, trình bày phù hợp với yêu cầu của từng dạng bài, kiểu bài với 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao. Cụ thể:

Đọc hiểu văn bản: Thường là những câu hỏi ở mức độ hiểu biết, hay vận dụng thấp.

Co giao day Van chi thi sinh cach dat diem cao trong ky thi quoc gia sap toi
Cô Lê Kim Mai trong một giờ dạy bộ môn Văn ở trường Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh (ảnh: P.L)
Do đó, học sinh cần làm bài thi ngắn gọn, chính xác theo yêu cầu của đề, phải gắn với văn bản, ngữ liệu mà đề đã cho. Học sinh cần chứng tỏ được hiểu biết và khả năng vận dụng của mình, thì mới lấy được trọn điểm.

Đối với câu hỏi yêu cầu viết đoạn: Đây là dạng bài yêu cầu phải vận dụng hay vận dụng cao. Thí sinh viết một đoạn văn, trình bày quan điểm của bản thân theo yêu cầu của đề.

Chú ý đến yêu cầu dung lượng tối thiểu của qui định trong đề thi, tối đa là không được nhiều quá 30%, nhằm tránh mất nhiều thời gian làm. Cần vận dụng thao tác lập luận, bình luận (nêu rõ quan điểm, đưa lý lẽ,, dẫn chứng để bảo vệ quan điểm đã nêu) khi làm bài dạng này.

Câu hỏi yêu cầu tạo lập văn bản: Học sinh cần tham khảo, đáp ứng đươc định hướng chấm điểm mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố.

Trong đó, quan trọng nhất là học sinh phải nêu được luận điểm triển khai theo trình tự hợp lý, có sự liên kết chặt chẽ, sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai luận điểm, biết kết hợp giữa lý lẽ và đưa dẫn chứng, dẫn chứng phải cụ thể và sinh động thì có thể được tối đa 2 điểm.

Nếu học sinh không mắc lỗi câu, lỗi chính tả, xác định đúng được vấn đề cần nghị luận, mở bài biết dẫn dắt hợp lý và nêu được vấn đề, có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo và thể hiện được quan điểm riêng thì có thể được tối đa 1 điểm (mỗi phần 0,25 điểm).

Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia vài năm gần đây luôn được ra đề thi theo định hướng phát triển năng lực, gắn với thực tiễn của cuộc sống và các vấn đề của xã hội.

Nếu học sinh chỉ có học vẹt, học tủ, không có kỹ năng làm bài, không có năng lực sử dụng ngôn ngữ, không có vốn hiểu biết về các vấn đề của xã hội, văn học thì chắc chắn không thể nào đạt được điểm cao trong kỳ thi quan trọng này.

Muốn có điểm cao, học sinh phải chuẩn bị bài thật nghiêm túc, thi cử trung thực, sau mỗi lần đi thi cần phải có rút ra được những kinh nghiệm cho chính bản thân mình.

Theo Thethaohangngay

Mẹo để làm tốt bài thi trắc nghiệm Hóa học thi THPT quốc gia

Mẹo để làm tốt bài thi trắc nghiệm Hóa học thi THPT quốc gia

Với mỗi dạng, học sinh cần xem cách giải của 1, 2 bài cụ thể để nắm được nguyên tắc chung. Đồng thời xem lại cách giải một số bài toán tổng hợp; Tập phân tích đề để có hướng giải thích hợp, nhanh, gọn.

Mẹo để làm tốt bài thi trắc nghiệm Hóa học thi THPT quốc gia

Mẹo để làm tốt bài thi trắc nghiệm Hóa học thi THPT quốc gia

Xác định trọng tâm kiến thức, phân bổ thời gian ôn tập hợp lý, giữ gìn sức khỏe và tâm lý vững vàng sẽ giúp các em có một bài thi đạt kết quả như mong đợi.

Cô giáo Nguyễn Đặng Thị Ngọc Huyền – Tổ trưởng môn Hóa học, Trường THPT Trần Hưng Đạo (quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) lưu ý học sinh kỹ năng ôn tập và làm tốt bài thi trắc nghiệm Hóa học – kỳ thi THPT quốc gia.

1. Kỹ năng ôn tập lý thuyết Hóa học

Với phần kiến thức lý thuyết, cô Ngọc Huyền khuyên các em nên ôn theo từng phân môn: hóa vô cơ, hóa hữu cơ. Ôn xong phần nào, các em nên chốt trọng tâm, ghi ra sổ tay phần đó.

Các em cần chú ý kỹ những kiến thức trọng tâm như: Công thức các chất phổ biến trong thực tế; Các số đồng phân của các hợp chất hữu cơ thông dụng; Cách viết công thức cấu tạo và cách gọi tên các hợp chất đã học; Thuộc lòng dãy điện hóa và cách vận dụng; Ôn cách cân bằng phản ứng oxi hóa – khử.

2. Kỹ năng ôn tập phần bài tập Hóa học

Về phần bài tập, cô Ngọc Huyền lưu ý học sinh nên ôn theo các dạng toán cụ thể: định luật bảo toàn khối lượng (tăng giảm khối lượng), bảo toàn e, bảo toàn điện tích, bảo toàn nguyên tố…

Với mỗi dạng, học sinh cần xem cách giải của 1, 2 bài cụ thể để nắm được nguyên tắc chung. Đồng thời xem lại cách giải một số bài toán tổng hợp; Tập phân tích đề để có hướng giải thích hợp, nhanh, gọn.

3. Kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm Hóa học

Để giúp học sinh làm tốt bài thi trắc nghiệm Hóa học, cô Ngọc Huyền chia sẻ một số kinh nghiệm và kỹ năng cơ bản:

– Đọc kỹ đề (cả đáp án) để xác định dạng bài tập mà suy ra cách giải phù hợp.

– Dựa vào đáp án để có thể chọn theo phương pháp loại trừ hoặc có thêm dữ kiện để giải bài hoàn chỉnh.

– Nên làm câu dễ trước (ít tốn thời gian).

– Với dạng bài lạ cứ bình tĩnh đọc kỹ đề và giải từng bước sẽ ra.

Ví dụ: Với bài chỉ có 1 phương trình mà 2 ẩn số, cứ giải sẽ rút gọn được thôi.

– Tận dụng tối đa cáccông thức đã được học cho mỗi dạng bài để giải nhanh, không cần giải tự luận.

– Với một số bài có thể dựa vào con số đề bài cho mà dự đoán được ngay đáp án, không cần giải (nếu thời gian không còn nhiều).

Ví dụ: Cho 10,8g KL → Xác định KL → Thường là Al.

11,2g KL → Xác định KL → Thường là Fe.

– Nếu chưa chắc với lựa chọn, các em nên thử kiểm tra lại.

– Tuyệt đối không bỏ câu. Nếu không chắc chắn một đáp án nào, hãy chọn một đáp án theo trực quan.

4. Thời gian ôn tập hợp lý

Về thời gian ôn tập, cô Ngọc Huyền đưa ra những hướng dẫn cụ thể: Trước ngày thi 1 tháng, cùng với việc ôn tập kiến thức các môn học khác, cứ 2 ngày học sinh dành khoảng 2 tiếng ôn 1 chương của lớp 12 (7 chương x 2 = 14 ngày). Sau đó ôn kiến thức lớp 10: chủ yếu phản ứng oxi hóa – khử và tốc độ phản ứng, cân bằng hóa học (2 ngày). Ôn kiến thức lớp 11: chủ yếu chương HNO3 và hiđrocacbon (3 ngày.

– Trước thi 10 ngày:

+ Ôn các công thức cần nhớ, các câu lý thuyết trọng tâm.

+ Xem lại vài bài tập khó → Cách giải.

– Trước thi 3 ngày:

+ Nghỉ ngơi cho tinh thần thoải mái.

5. Bí quyết giữ sức khỏe trước kỳ thi

Với kinh nghiệm nhiều năm giúp học sinh chuẩn bị kiến thức và tâm thế cho những kỳ thi quan trọng, cô Ngọc Huyền đặc biệt lưu ý học sinh nên giữ gìn sức khỏe và tâm lý vững vàng để “hái quả” thành công.

Các em cần ngủ đủ giấc và đúng giờ (khoảng 6 tiếng vào buổi tối: từ 22 giờ 30 phút đến 5 giờ sáng), trưa nghỉ khoảng 30 phút sau ăn trưa; Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ăn nhiều trái cây (có thể chú ý đến táo).

Hạn chế hoặc tạm “cai” lươt web vì sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc nhớ kiến thức, tốn thời gian. Các em nên tập thể dục nhẹ nhàng vào mỗi buổi sáng thức dậy để tinh thần sảng khoái cho 1 ngày ôn tập mới.

Theo Thethaohangngay

Dự đoán đề thi THPTQG môn Toán

Dự đoán đề thi THPTQG môn Toán

Từ nay đến ngày thi THPT quốc gia chỉ còn hơn 2 tháng, vậy nên các em cần có kế hoạch học tập cụ thể theo từng ngày, từng tuần thì mới có thể mong ước đạt được điểm số cao. Đối với môn Toán, khi thời gian ôn tập không còn nhiều, các em cần trả lời được câu hỏi: Mình có thể đạt mấy điểm môn Toán?

Dự đoán đề thi THPTQG môn Toán

Dự đoán đề thi THPTQG môn Toán

Để đạt được điểm cao trong kỳ thi THPT Quốc gia sắp tới thì 03 câu hỏi kiếm điểm 8, 9 và 10 học sinh không thể bỏ qua và cần phải biết các dạng nào sẽ ra cho 3 loại câu hỏi này. Chi tiết dưới đây

Theo cấu trúc đề thi, mức độ từ dễ đến khó sẽ được sắp xếp tăng dần theo số lượng câu hỏi. Như vậy 3 câu hỏi khó nhất của đề bài sẽ rơi vào câu 8, 9, 10 đặc biệt là câu 10. Trong đó, các dạng bài thường xuyên xuất hiện gồm:

Câu điểm 8: Thường là câu về tọa độ phẳng Oxy. Xu hướng ra đề gần đây là từ hình vẽ phát hiện ra một tính chất đặc biệt như quan hệ vuông góc, song song… rồi chứng minh tính chất này. Muốn học phần này dễ dàng, các em cần học được cách khai triển bài toán, chứ không phải học thuộc tính chất có sẵn của hình vẽ, như vậy sẽ bị động và hoang mang. Gặp mỗi bài toán mới, các em sẽ như chàng tí hon mà gặp một cơn bão lớn. Vì vậy, cần biết cách khai triển bài toán bất kỳ, ví dụ:

– Nếu yêu cầu tìm điểm M mà cho biết tọa độ một điểm E thì nghĩ tới việc tính khoảng cách ME.

– Nếu yêu cầu tìm điểm M mà cho biết tọa độ hai điểm E, F thì nghĩ tới việc phát hiện tam giác MEF vuông, cân hay đều…

Còn việc chứng minh cũng cần học kỹ thuật khai triển. Có như vậy các em mới thấy câu Oxy thật nhẹ nhàng, và chỉ cần 2 tuần học là học sinh có thể tự tin về câu này.

Câu điểm 9: Thường là câu về phương trình, bất phương trình, hệ phương trình. Để làm được câu này, học sinh cần học bài bản các kỹ thuật giải chính như liên hợp, đặt nhân tử chung, hàm đặc trưng, đặt ẩn phụ, đánh giá… Đây là câu vận dụng mức độ cao nhưng không phải là quá khó, cần nắm vững kỹ thuật và làm nhiều bài tập tự luyện để hình thành phản xạ thì việc kiếm được 0,75 điểm-1 điểm của câu này là trong tầm tay.

Câu điểm 10: Thường là câu thuộc chủ đề bất đẳng thức, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất. Câu này dành cho các em đã có cả một quá trình ôn luyện rất dài, và phải có tư duy rất tốt. Để làm được câu này cần nắm vững kỹ thuật chọn điểm rơi; các bất đẳng thức phụ cơ bản và ý tưởng khai triển bài toán.

Tuy nhiên, nếu trong quá trình ôn tập mà luôn gặp khó khăn với câu hỏi “vàng mười” này thì học sinh nên bỏ qua, để dành thời gian để kiếm trọn 9 điểm những câu trước, vì 9 điểm đã là thành công rồi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa cho biết sẽ không công bố đề thi minh họa cho kỳ thi THPT quốc gia 2016, cấu trúc đề năm nay tương tự 2015. Như vậy đối với môn Toán, có thể hình dung tổng thể đề thi ra theo thang điểm 10, câu ở mức độ cơ bản chiếm 60%, mức độ vận dụng cao chiếm 40% tổng điểm, các câu hỏi được sắp xếp từ dễ đến khó.

Từ nay đến ngày thi THPT quốc gia chỉ còn hơn 2 tháng, vậy nên các em cần có kế hoạch học tập cụ thể theo từng ngày, từng tuần thì mới có thể mong ước đạt được điểm số cao. Đối với môn Toán, khi thời gian ôn tập không còn nhiều, các em cần trả lời được câu hỏi: Mình có thể đạt mấy điểm môn Toán?

Các em cần căn cứ vào điểm bài thi thử gần nhất và điểm kiểm tra Toán trên lớp, nếu bình quân đạt 7 trở lên thì có thể nghĩ đến việc đạt 8-10 trong kỳ thi THPT quốc gia. Còn nếu không các em hãy xác định mục tiêu cho phù hợp năng lực. Biết mình biết ta thì trăm trận trăm thắng.

Học sinh nếu có mục tiêu đạt điểm 8 trở lên cần bố trí thời gian ôn tập thật chi tiết. Nên dành khoảng 2 tuần lễ để học và tổng hợp tất cả kỹ năng làm bài cũng như lý thuyết cần nhớ, bám sát kiến thức sách giáo khoa của các dạng Toán cơ bản để đạt từ 1 đến 7 điểm như: Khảo sát hàm số và bài toán liên quan, Lượng giác, Mũ và logarit, Số phức, Tích phân, Hình giải tích không gian Oxyz, Xác suất và Nhị thức niu tơn, Hình học không gian. Đảm bảo rằng các em phải kiếm trọn vẹn 7 điểm này. Thời gian còn lại hãy học song song 2 chủ đề lấy 8 và 9 điểm.

Theo Thethaohangngay

Kinh nghiệm sử dụng Atlat Địa lý Việt trong kỳ thi THPT

Kinh nghiệm sử dụng Atlat Địa lý Việt trong kỳ thi THPT

Đọc kỹ bảng chú giải (nằm ở trang đầu Atlat và trong mỗi trang Atlat cũng có bảng kí hiệu riêng). Đọc kỹ bảng chú giải để biết những đối tượng địa lí nào được thể hiện trên biểu đồ, cách thức thể hiện ra sao, bằng màu sắc, kí hiệu hình học, tượng hình hay bằng chữ viết

Kinh nghiệm sử dụng Atlat Địa lý Việt trong kỳ thi THPT

Kinh nghiệm sử dụng Atlat Địa lý Việt trong kỳ thi THPT

Thầy giáo bày “mẹo” sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam cho thí sinh thi quốc gia

Atlat Địa lý Việt Nam được coi là cuốn sách giáo khoa Địa lý thứ hai, là “tài liệu” duy nhất mà học sinh được mang vào phòng thi trong tất cả các kỳ thi

Nếu như sách giáo khoa Địa lí được viết chủ yếu bằng kênh chữ thì Atlat Địa lý Việt Nam là cuốn được viết bằng kênh hình, được xây dựng dựa trên chương trình địa lý Việt Nam.

Với kinh nghiệm nhiều năm ôn luyện học sinh giỏi, ôn tập cho học sinh thi tốt nghiệp, thi THPT quốc gia, thầy giáo Lê Quốc Châu (hiện đang là giáo viên Địa lý trường THPT Cù Huy Cận, tỉnh Hà Tĩnh) gợi ý cách sử dụng Atlat địa lý Việt Nam khi làm bài thi, đặc biệt đối với các em học sinh lớp 12 chuẩn bị bước vào kỳ thi THPT quốc gia sắp tới.

Atlat Địa lý Việt Nam thực chất là tập bản đồ, một tập nhiều bản đồ sắp xếp lại với nhau, được viết bằng kí hiệu, màu sắc, bản đồ, bảng số liệu… Atlat Địa lý Việt Nam và đề thi THPT quốc gia môn Địa lý được cấu trúc phù hợp với các đơn vị sách giáo khoa Địa lý lớp 12 nên thí sinh cần nắm rõ điều này.

Thay giao bay \
Atlat là “tài liệu” duy nhất mà học sinh được mang vào phòng thi trong tất cả các kỳ thi. (Ảnh: Giáo dục và thời đại)
Theo thầy Châu: Nếu sách giáo khoa Địa lý lớp 12 được cấu trúc thành 4 đơn vị kiến thức cơ bản là: Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, Địa lí các ngành kinh tế, Địa lí các vùng kinh tế thì Atlat Địa lý Việt Nam cũng được cấu trúc tương tự như vậy.

Trong Atlat Địa lí Việt Nam chia thành:

– Phần 1: Địa lí tự nhiên (từ trang 4 đến trang 14).

– Phần 2: Địa lý dân cư (từ trang 15 đến trang 16).

– Phần 3: Địa lý các ngành kinh tế (từ trang 17 đến trang 25).

– Phần 4: Địa lý các ngành kinh tế (từ trang 26 đến trang 30).

Năm 2016, Bộ GD&ĐT cho biết, Bộ không công bố đề thi minh họa THPT quốc gia. Đề thi năm 2016 về cơ bản ổn định như năm 2015, vì vậy thí sinh có thể tham khảo đề minh họa năm ngoái.

Dựa vào đề thi năm 2015 cho thấy, đề thi THPT quốc gia môn Địa lý gồm 4 câu tập trung vào các vấn đề sau:

– Câu 1: Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư

– Câu 2: Kiểm tra kỹ năng sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam.

– Câu 3: Kiểm tra kỹ năng xử lý số liệu, tính toán, vẽ, nhận xét và giải thích biểu đồ.

– Câu 4: Địa lí ngành, Địa lí vùng kinh tế Việt Nam.

Thầy Lê Quốc Châu khuyên rằng: Atlat Địa lý Việt Nam được coi là “tài liệu” duy nhất mà học sinh được sử dụng trong kỳ thi THPT quốc gia nên khi làm bài thí sinh cần tận dụng hết những gì trong Atlat có để có thể giành điểm cao:

Khi làm bài câu 1, học sinh chỉ cần dựa vào Atlat từ trang 4 đến trang 14, câu 2 thì nên dựa vào toàn bộ cuốn Atlat, câu 3 vẽ biểu đồ nên các em có thể tham khảo các biểu đồ kèm theo trong Atlat còn câu 4 thì thí sinh dựa vào Atlat từ trang 26 đến trang 30 và kết hợp với các trang khác.

Những nội dung không có trong Atlat, buộc thí sinh phải học đó là: vai trò của ngành nông nghiệp-công nghiệp, các định hướng phát triển kinh tế-xã hội, các giải pháp….

Cách tận dụng toàn bộ thông tin trong Atlat Địa lý Việt Nam để làm bài thi tốt:

– Đọc kỹ bảng chú giải (nằm ở trang đầu Atlat và trong mỗi trang Atlat cũng có bảng kí hiệu riêng). Đọc kỹ bảng chú giải để biết những đối tượng địa lí nào được thể hiện trên biểu đồ, cách thức thể hiện ra sao, bằng màu sắc, kí hiệu hình học, tượng hình hay bằng chữ viết.

– So sánh, đối chiếu kí hiệu, màu sắc ở bảng chú giải với từng kí hiệu, màu sắc trên mỗi bản đồ trong Atlat. Từ đó, rút ra nhận xét về thực trạng, về phân bố các đối tượng địa lí trên bản đồ.

– Sử dụng kết hợp nhiều trang Atlat để trả lời một câu hỏi trong đề thi.

Ví dụ, giải thích vì sao Đồng bằng sông Cửu Long lại trở thành vựa lúa số 1 cả nước, thí sinh cần sử dụng Atlat trang về vùng Đồng bằng sông Cửu Long (trang 29) kết hợp các bản đồ địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu, động thực vật thì mới có câu trả lời thấu đáo, trọn vẹn nhất.

– Khai thác kiến thức, số liệu từ các biểu đồ trong Atat. Trong Atlat có rất nhiều loại biểu đồ. Các biểu đồ vừa là hình vẽ để thí sinh tham khảo khi vẽ các loại biểu đồ mà đề thi yêu cầu, vừa cung cấp các số liệu.

Thí sinh chỉ cần tính toán, xử lý số liệu, nhận xét số liệu thì sẽ ra ngay phần kiến thức về thực trạng, xu thế phát triển kinh tế – xã hội. Như vậy, phần này, không cần học thuộc sách giáo khoa mà chỉ cần kỹ năng sử dụng Atlat cho tốt, cho thành thạo là được.

Muốn sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam thành thạo buộc học sinh phải chăm chỉ học trên Atlat, luyện đề, giải đề theo từng trang, có bộ câu hỏi về kỹ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam.

Theo Thethaohangngay

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

HS cần xác định trong đề thi vừa có từ ngữ pháp và từ ngữ nghĩa . Vậy để bảo đảm chác chắn có điểm nên chọn các câu có từ ngữ pháp làm trước ( giới từ , từ quan hệ, từ nối câu ) và các câu có từ ngữ nghĩa làm sau.

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

Kỳ thi THPT Quốc gia đang đến gần, cô Nguyễn Thị Hồng Minh – Giáo viên Trường THPT Tuy Phước số 1 (Bình Định) “mẹo” làm bài thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu.

Phần tìm lỗi sai

Các em hãy đọc toàn bộ cả câu trước khi đưa ra lựa chọn, bởi vì những từ hay cụm từ đó thường chỉ sai hoặc không hợp lý khi đặt vào ngữ cảnh của toàn câu.

Dạng này muốn kiếm tra thí sinh kiến thức ngôn ngữ tổng quát, nhưng chủ yếu là các kiến thức về ngữ pháp (sử dụng thời, động từ, danh từ, tính từ, mạo từ, vv) từ vựng (dạng thức, sử dụng đúng từ trong văn cảnh, v.v..).

Ví dụ : One of the most serious medical problem that mankind is facing isH5N1.

A – B – C – D

Ví dụ trong câu trên, sau khi xem xét cả bốn từ gạch chân ta xác định được chỗ sai là B vì sau One of phải là một danh từ đếm được số nhiều. Các bạn hãy tham khảo lại cách làm các câu đơn trắc nghiệm như trong phần (A) ở trên.

Phần đọc hiểu: (30 câu)

Dạg 1: Một bài với 10 câu đọc và lựa chọn từ chính xác nhất để điền vào chỗ trống

– HS cần xác định trong đề thi vừa có từ ngữ pháp và từ ngữ nghĩa . Vậy để bảo đảm chác chắn có điểm nên chọn các câu có từ ngữ pháp làm trước ( giới từ , từ quan hệ, từ nối câu ) và các câu có từ ngữ nghĩa làm sau.

Dạng 2: Hai bài với 20 câu đọc sau đó lựa chọn phương án trả lời đúng nhất cho một số câu hỏi về bài đọc.

– HS cần đọc các câu hỏi trước sau đó đọc bài để tìm thông tin trả lời các câu hỏi đó

Kỹ năng làm bài đọc hiểu

+ Scanning: Tìm kiếm các từ, cụm từ, một ý trong bài, đặc biệt là tên riêng và con số.

+ Skimming: Đọc lướt để tìm ý chính, chủ yếu tập trung vào các danh từ, động từ và tính từ thể hiện chủ đề bài học.

+ Guessing: Đoán nghĩa của từ mới dựa vào văn cảnh hoặc đoán loại từ cần điền vào chỗ trống.

+ Inference: Rút ra kết luận từ thông tin đọc được trong bài (dựa vào ý chi tiết, các từ quan trọng ở trong câu hỏi và bài đọc)

+ Referring: Đối chiếu để hiểu được các đại từ quy chiếu tới sự vật, sự việc nào trong bài học.

Ví dụ: In August 1964, an American man named Norman Cousins suddenly became very ill. Within a week, he was in hospital, unable to move his arms and legs and feeling terrible pain. It was impossible for him to sleep. His doctor said that it was unlikely that he would get better.

Câu hỏi: Norman Cousins went to hospital because he ………

A. was unable to sleep. B. felt extremely unwell.

C. found he could laugh. D. would never get better again.

Đọc tất cả các phương án trên, chúng loại ngay được phương án C vì thông tin không có trong bài đọc. Phương án D có chứa một số từ giống như trong bài đọc nhưng cũng không đúng vì trong bài viết là “His doctor said that it was unlikely that he would get better”.

Phương án A thoạt nhìn có vẻ đúng vì trong bài có câu “It was impossible for him to sleep”. Nhưng đọc kỹ lại ta thấy là sau khi nhập viện rồi Norman mới không ngủ được, còn trước đó thì ta không biết, vì trong bài không đưa thông tin này. Vậy chỉ còn phương án B là đúng nhất vì “extremely unwell” là đồng nghĩa với “very ill”.

Phần viết lại câu: (5 câu)

– Trọng tâm ngôn ngữ của dạng bài tập tự luận gồm: Thì biến đổi từ quá khứ đơn sang hiện tại hoàn thành và ngược lại và biến đổi từ quá khứ đơn sang quá khứ hoàn thành và ngược lại. Lưu ý việc sử dụng liên từ since, for, before, after …

– Các trọng điểm ngữ pháp: Mệnh đề quan hệ, Câu điều kiện 3 loại cơ bản, câu ao ước WISH, câu bị động, câu tường thuật, câu so sánh, Gerund và Infinitives (dạng biến đổi câu)

– Các cấu trúc câu: So/ such…that, too… to, enough… to, because – because of, although – in spite of.

Theo Thethaohangngay

4 lỗi cơ bản dễ bị mất điểm khi thi Địa lý

4 lỗi cơ bản dễ bị mất điểm khi thi Địa lý

Ý yêu cầu kể tên các trung tâm công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thì thí sinh lại kể tên các tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm công nghiệp miền trung.

4 lỗi cơ bản dễ bị mất điểm khi thi Địa lý

4 lỗi cơ bản dễ bị mất điểm khi thi Địa lý

Các thầy cô giáo dạy Địa lý Trường THPT Phan Đình Giót (Điện Biên) điểm danh 4 lỗi cơ bản khiến thí sinh bị mất điểm khi làm bài thi Địa lý trong kỳ thi THPT quốc gia.

Không xác định được câu hỏi, kĩ năng sử dụng Atlat kém

Nhiều học sinh mắc phải lỗi này trong bài thi THPT quốc gia năm 2015. Ví dụ, đề thi Địa lý kỳ thi THPT quốc gia 2015 có câu hỏi như sau:

Dựa vào trang 4 – 5 và trang 30 của Atlat Địa lí Việt Nam, hãy: Xác định các tỉnh của nước ta có đường biên giới trên đất liền chung với Trung Quốc. Kể tên các trung tâm công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung?

Tuy nhiên, với yêu cầu xác định các tỉnh của nước ta có đường biên giới trên đất liền chung với Trung Quốc thì một số học sinh lại xác định các tỉnh của Trung Quốc, Lào;

Ý yêu cầu kể tên các trung tâm công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thì thí sinh lại kể tên các tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm công nghiệp miền trung.

Kĩ năng vẽ biểu đồ, nhận xét yếu

Ví dụ, có thí sinh vẽ biểu đồ đúng dạng nhưng chia các danh số trên trục tung không đúng dẫn đến cả biểu đồ sai. Khi vẽ biểu đồ sai thì phần nhận xét, giải thích biểu đồ sẽ không được chấm.

Một lỗi nữa là trong đề không yêu cầu học sinh xử lí số liệu khi vẽ, nhưng học sinh xử lí số liệu nên vẽ biểu đồ sai.

Phân bố thời gian không hợp lý

Biểu hiện của việc phân bố thời gian làm bài không hợp lí là một số câu thường được dành quá nhiều thời gian, làm quá kĩ, chi tiết nên không đủ thời gian làm các câu còn lại (như câu biển, đảo). Do không đủ thời gian, thí sinh buộc phải làm sơ sài, bỏ ý, bỏ câu, mất số điểm lớn.

Không biết cách trình bày

Nhiều thí sinh trình bày quá dài dòng, vừa mất thời gian vừa không làm nổi bật ý trọng tâm. Các ý khác nhau viết lẫn lộn thường chỉ được điểm của một ý. Thí sinh không tách ý, tách đoạn của bài làm mà viết dàn trải, các ý của câu gộp thành một đoạn văn bản lớn nên giáo viên khó đọc, khó chấm.

Theo Thethaohangngay

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Đây là một bài mắc bẫy học sinh vì các gen cùng nằm trên một NST nên số kiểu gen dị hợp của cả 2 cặp ( ngoài trường hợp liên kết đồng AB/ab còn có trường hợp liên kết đối Ab/aB do hoán vị gen).

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Để tránh mất điểm khi làm bài thi THPT Quốc gia môn Sinh năm 2016, thí sinh cần chú ý những lỗi thường gặp sau:

Theo chia sẻ của cô Phan Thị Phú, trong bài thi Sinh học, thí sinh thường mắc những lỗi khá “ngớ ngẩn”, có thể gây “mất điểm oan”, trong đó có cả lỗi do các em không đọc kỹ đề bài. Vì vậy, ngay trong quá trình ôn tập, các em nên lưu tâm đến những lỗi thông thường để bài thi chính thức đạt kết quả tốt nhất.

Một số lỗi khi đọc đầu bài không kỹ

– Các gen nằm trên các NST khác nhau khác với các gen cùng nằm trên một NST.

– Gen nằm ở ti thể, lập thể hay hệ gen vòng thì các em phải suy ra gen nằm ở tế bào chất nên sẽ tuân theo quy luật di truyền qua tế bào chất (ngoài nhân) chứ không phải theo quy luật trong nhân.

– Gen nằm trên vùng tương đồng của NST X và Y hay đọc nhầm với gen nằm trên vùng không tương đồng của X (không có alen trên Y).

– Mỗi kiểu gen quy định một kiểu hình (tức là hiện tượng trội không hoàn toàn) sẽ khác với trường hợp trội hoàn toàn trong việc tính số kiểu hình và tỉ lệ kiểu hình.

– Nếu bài hỏi tìm số kiểu gen tối đa, tối thiểu mà không nói gen nằm ở vị trí nào trong tế bào thì em phải xác định gen nằm ở vùng tương đồng của X và Y là số kiểu gen nhiều nhất. Còn gen nằm ngoài nhân là số kiểu gen ít nhất.

– Tất cả các tế bào không phân ly trong giảm phân 1(2) khác với trường hợp một số tế bào không phân ly trong giảm phân 1(2).

– Cần chú ý cặp nhiễm sắc thể (NST) giới tính cụ thể của một số loài có khác nhau để áp dụng làm bài tập. Ở gà, chim, tằm, cá … thì cặp NST giới tính của giới đực là XX, giới cái là XY. Còn ở ruồi giấm, động vật thuộc lớp thú thì ngược lại cặp NST giới tính ở giới cái lại là XX, giới đực là XY.

Cô Phan Thị Phú hi vọng rằng, các thí sinh sẽ ôn tập một cách khoa học, giữ tâm lý bình tĩnh, tự tin để tránh mất điểm bởi những lỗi không đáng có khi làm bài và giành điểm cao môn Sinh học trong kỳ thi THPT Quốc gia 2016.

1. Dạng bài tập Phần AND, ARN, nhân đôi AND, phiên mã, dịch mã

Ví dụ: Một plasmit có 104 cặp nuclêôtit tiến hành nhân đội 3 lần, số liên kết cộng hoá trị được hình thành giữa các nuclêôtit của ADN là.

Đây là một plasmit (nằm trong tế bào chất của nhiều loài vi khuẩn) nên chúng có hệ gen dạng vòng. Vì vậy tính số liên kết hóa trị được hình thành trong quá trình nhân đôi thì không thể áp dụng công thức thông thường : HTht = HTgen ( 2n – 1) = ( N- 2) (2n – 1) mà phải tính bằng công thức: N (2n – 1)

a.160000. b.159984. c.139986. d.140000.

Đáp án: d

2. Dạng bài tập quy luật di truyền.

Ví dụ 1. Cho biết A trội hoàn toàn so với a. Lấy hạt phấn của cây tam bội Aaa thụ phấn cho cây tứ bội Aaaa, nếu hạt phấn lưỡng bội không có khả năng thụ tinh thì tỉ lệ kiểu hình ở đời con là:

a.3 : 1. b.8 : 1. c .11 : 1. d .9 : 1.

Các em sẽ giải bài toán với 2 sự chú ý sau:

– Hạt phấn lưỡng bội (2n) không có khả năng thụ tinh thì sau khi em viết giao tử được tạo ra của cơ thể tam bội gồm n và 2n thì em phải cho giao tử 2n bị chết, sau đó chia lại tỉ lệ của các giao tử còn lại tham gia thụ tinh 2/3 a : 1/3 A.

– Khi đọc kết quả bài toán phải chính xác. Với bài này các em tìm tỉ lệ kiểu hình lặn = 1/9; kết quả là 8 trội: 1 lặn chứ không phải là 9 trội: 1 lặn

Đáp án: b

Ví dụ 2. Một cặp vợ chồng đều có nhóm máu A và đều có kiểu gen dị hợp về tính trạng nhóm máu. Nếu họ sinh hai đứa con thì xác xuất để 1 đứa có nhóm máu A và một đứa có nhóm màu O là:

a.3/8 b.3/16 c.1/2 d.1/4

Với bài này đề yêu cầu chỉ cần 1 đứa con nhóm máu A và một 1 đứa con nhóm máu O, chứ không bắt buộc đứa con đầu phải mang nhóm máu A và đứa con sau phải mang nhóm máu O. Vì vậy sẽ có 2 trường hợp xảy ra. Và họ đều là con của một cặp bố mẹ nên chúng ta chỉ lấy sắc xuất 1 lần của bố và mẹ cho cùng cả 2 đứa trẻ.

Kết quả bài toán: (xác suất của bố ) x (xác suất của mẹ ) x (xác suất của 2 con).

1.1 . [ ( 3/4 .1/4) .2] = 3/8.

Đáp án: a

Ví dụ 3. Ở tằm, hai gen A và B cùng nằm trên một nhóm gen liên kết cách nhau 20cM. Ở phép lai ♀ABab × ♂ AbaB , kiểu gen abab của đời con có tỉ lệ

a.0,05. b.0,01. c.0,04. d.0,00.

Các em vẫn quen làm bài tập sự hoán vị gen xảy ra ở con ruồi giấm cái. Tuy nhiên trong SGK đơn cử ví dụ về con tằm trong bài 12 thì các em phải chú ý sự hoán vị gen lại xảy ra ở con tằm đực (có cặp NST gới tính là XX) .

Đáp án: a

Ví dụ 4. Gen A và B cùng nằm trên một cặp NST thường, trong đó gen A có 5 alen, gen B có 3 alen. Số kiểu gen dị hợp về cả hai gen là.

a.30. b.105. c.45. d.60.

Đây là một bài mắc bẫy học sinh vì các gen cùng nằm trên một NST nên số kiểu gen dị hợp của cả 2 cặp ( ngoài trường hợp liên kết đồng AB/ab còn có trường hợp liên kết đối Ab/aB do hoán vị gen).

Kết quả bài toán trên là: (C25 . C23.).2 = 60

3. Dạng bài tập di truyền quần thể

Ví dụ. Ở người, tính trạng nhóm máu ABO do một gen cỏ alen IA, IB, IO quy định. Trong một quần thể đan cân bằng về di truyền có 25% số người mang nhóm máu O; 39% số người mang nhóm máu B. Một vặp vợ chồng đều mang nhóm máu A sinh người con, xác suất để đứa con này mang nhóm máu giống bố mẹ.

a.25144 b.119144 c.1924 d.34

Với bài này các em dễ dàng tính được p(IA) = 0,2 ; q(IB) = 0,3 ; r(IO) = 0,5.

Để tìm được xác suất đứa con này mang nhóm máu giống bố mẹ, ta có 100% – (xác suất đứa con này mang nhóm máu khác bố mẹ bố mẹ).

Muốn vậy phải tìm được xác suất người cha mà người mẹ đều có kiểu gen IAIO trong tổng số người mang nhóm máu A chứ không phải tìm trong tổng quần thể. Vì người cha và mẹ đã sinh ra đời và đầu bài đã khẳng định là nhóm máu A.

– Kết quả bài toán: 100% – ( 5/6 bố . 5/6 mẹ . 1/4 con) = 119/144

Đáp án: b

Theo Thethaohangngay