Tag: thi tiếng anh

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

HS cần xác định trong đề thi vừa có từ ngữ pháp và từ ngữ nghĩa . Vậy để bảo đảm chác chắn có điểm nên chọn các câu có từ ngữ pháp làm trước ( giới từ , từ quan hệ, từ nối câu ) và các câu có từ ngữ nghĩa làm sau.

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

Kinh nghiệm thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu

Kỳ thi THPT Quốc gia đang đến gần, cô Nguyễn Thị Hồng Minh – Giáo viên Trường THPT Tuy Phước số 1 (Bình Định) “mẹo” làm bài thi môn tiếng Anh phần tìm lỗi sai, viết lại câu và đọc hiểu.

Phần tìm lỗi sai

Các em hãy đọc toàn bộ cả câu trước khi đưa ra lựa chọn, bởi vì những từ hay cụm từ đó thường chỉ sai hoặc không hợp lý khi đặt vào ngữ cảnh của toàn câu.

Dạng này muốn kiếm tra thí sinh kiến thức ngôn ngữ tổng quát, nhưng chủ yếu là các kiến thức về ngữ pháp (sử dụng thời, động từ, danh từ, tính từ, mạo từ, vv) từ vựng (dạng thức, sử dụng đúng từ trong văn cảnh, v.v..).

Ví dụ : One of the most serious medical problem that mankind is facing isH5N1.

A – B – C – D

Ví dụ trong câu trên, sau khi xem xét cả bốn từ gạch chân ta xác định được chỗ sai là B vì sau One of phải là một danh từ đếm được số nhiều. Các bạn hãy tham khảo lại cách làm các câu đơn trắc nghiệm như trong phần (A) ở trên.

Phần đọc hiểu: (30 câu)

Dạg 1: Một bài với 10 câu đọc và lựa chọn từ chính xác nhất để điền vào chỗ trống

– HS cần xác định trong đề thi vừa có từ ngữ pháp và từ ngữ nghĩa . Vậy để bảo đảm chác chắn có điểm nên chọn các câu có từ ngữ pháp làm trước ( giới từ , từ quan hệ, từ nối câu ) và các câu có từ ngữ nghĩa làm sau.

Dạng 2: Hai bài với 20 câu đọc sau đó lựa chọn phương án trả lời đúng nhất cho một số câu hỏi về bài đọc.

– HS cần đọc các câu hỏi trước sau đó đọc bài để tìm thông tin trả lời các câu hỏi đó

Kỹ năng làm bài đọc hiểu

+ Scanning: Tìm kiếm các từ, cụm từ, một ý trong bài, đặc biệt là tên riêng và con số.

+ Skimming: Đọc lướt để tìm ý chính, chủ yếu tập trung vào các danh từ, động từ và tính từ thể hiện chủ đề bài học.

+ Guessing: Đoán nghĩa của từ mới dựa vào văn cảnh hoặc đoán loại từ cần điền vào chỗ trống.

+ Inference: Rút ra kết luận từ thông tin đọc được trong bài (dựa vào ý chi tiết, các từ quan trọng ở trong câu hỏi và bài đọc)

+ Referring: Đối chiếu để hiểu được các đại từ quy chiếu tới sự vật, sự việc nào trong bài học.

Ví dụ: In August 1964, an American man named Norman Cousins suddenly became very ill. Within a week, he was in hospital, unable to move his arms and legs and feeling terrible pain. It was impossible for him to sleep. His doctor said that it was unlikely that he would get better.

Câu hỏi: Norman Cousins went to hospital because he ………

A. was unable to sleep. B. felt extremely unwell.

C. found he could laugh. D. would never get better again.

Đọc tất cả các phương án trên, chúng loại ngay được phương án C vì thông tin không có trong bài đọc. Phương án D có chứa một số từ giống như trong bài đọc nhưng cũng không đúng vì trong bài viết là “His doctor said that it was unlikely that he would get better”.

Phương án A thoạt nhìn có vẻ đúng vì trong bài có câu “It was impossible for him to sleep”. Nhưng đọc kỹ lại ta thấy là sau khi nhập viện rồi Norman mới không ngủ được, còn trước đó thì ta không biết, vì trong bài không đưa thông tin này. Vậy chỉ còn phương án B là đúng nhất vì “extremely unwell” là đồng nghĩa với “very ill”.

Phần viết lại câu: (5 câu)

– Trọng tâm ngôn ngữ của dạng bài tập tự luận gồm: Thì biến đổi từ quá khứ đơn sang hiện tại hoàn thành và ngược lại và biến đổi từ quá khứ đơn sang quá khứ hoàn thành và ngược lại. Lưu ý việc sử dụng liên từ since, for, before, after …

– Các trọng điểm ngữ pháp: Mệnh đề quan hệ, Câu điều kiện 3 loại cơ bản, câu ao ước WISH, câu bị động, câu tường thuật, câu so sánh, Gerund và Infinitives (dạng biến đổi câu)

– Các cấu trúc câu: So/ such…that, too… to, enough… to, because – because of, although – in spite of.

Theo Thethaohangngay

Mẹo đánh lụi tiếng Anh hiệu quả khi không làm được bài

Mẹo đánh lụi tiếng Anh hiệu quả khi không làm được bài

Nếu từ định hướng xuất hiện 5 đến 6 lần trong đoạn văn thì có thể phải đọc cả đoạn? Bạn không nên làm điều đó mà hãy quay thật nhanh trở lại câu hỏi và chọn một từ “định hướng” khác.

Mẹo đánh lụi tiếng Anh hiệu quả khi không làm được bài

Mẹo đánh lụi tiếng Anh hiệu quả khi không làm được bài

Có rất nhiều bạn lo ngại với môn thi tiếng Anh trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016. Và đây chính là cứu tinh cho các bạn: Bí quyết khoanh bừa đề thi trắc nghiệm môn tiếng Anh đáng để học hỏi nhé.

Có thể nói có rất nhiều thủ thuật để giúp cho các sĩ tử trong mùa thi. Nếu bạn phải đối mặt với 1 trong hai tình huống, không kịp giờ hoặc không thể hiểu được câu đó, bạn có thể áp dụng các quy tắc sau:

Khi làm bài (nhất là gặp các câu dài, phức tạp) ta hãy xem xét đồng thời một lúc 4 chọn lựa, từ ngoài vào trong, nếu thấy chọn lựa nào khác với 3 cái kia thì ta loại ngay rồi xét tiếp các đoạn tiếp theo nếu có 1 chọn lựa khác với 2 cái kia thì loại tiếp. Cuối cùng chỉ cònn lại 2 chọn lựa thì ta xem coi chúng khác nhau chỗ nào mà xoáy vào chỗ khác nhau đó để suy luận đúng sai, nếu không suy luận được thì chọn đại 1 trong 2

Ví dụ 1:

A. She has to………

B .She has to………

C. She had to………

D. She has to………

Thấy câu C khác 3 câu kia nên loại, sau đó xem tiếp:

A. She has to have it taken……….

B. She has to have it taken ……….

C. She had to………

D. She has to have it to take ………

Thấy câu D khác 3 câu kia nên loại, sau đó xem tiếp 2 câu còn lại khác nhau chỗ nào mà đối chiếu với câu đề để tìm ra câu đúng.

Ví dụ 2:

I/have/stay/uplate/lastnight/learn/lessons.

A. I had had to stay up late last night to learn my lessons.
B. I had to stay up late last night to learn my lessons.
C. I had to stayed up late last night to learn my lessons.
D. I have had to stay up late last night to learn my lessons.

Xem xét từ ngoài vào ta thấy A và D khác trong khi B, C giống nhau nên loại A,D

A. I had had to stay up late last night to learn my lessons.

B. I had to stay up late last night to learn my lessons.

C. I had to stayed up late last night to learn my lessons.

D. I have had to stay up late last night to learn my lessons.

Khi còn lại B,C ta xét tiếp thì loại câu C vì sau had to mà dùng động từ them ed , còn lại đáp án là B

Ví vụ 3:

They /prefer/classical music/pop music.

A. They prefer classical music than pop music.

B. They prefer classical music to pop music.

C. They prefer to classical music than pop music.

D. They would prefer classical music than pop music.

Câu C và D khác ⇒ loại, còn A và B thì xét tiếp thấy khác nhau chỗ TO và THAN , nếu biết được cấu trúc : prefer đi với TO thì ta chọn còn nếu không biết thì …”ủm ba la” chọn đại 1 trong 2 câu, xác xuất 50-50

Nhắc lại là ta chỉ nên áp dụng nguyên tắc này trong 2 trường hợp sau đây : vì nguyên tắc này không phải lúc nào cũng đúng)

– Không kịp giờ

– Không hiểu gì về câu đó.

-Nếu trong đáp án có câu đảo ngữ thì xác suất cao câu đó là đáp án đúng

Lại một cái tiêu đề nghe khó hiểu nữa phải không các anh chị? Nguyên tắc này dùng khi gặp câu đảo ngữ.

Ý nói là nếu khi làm trắc nghiệm anh chị gặp trong 4 chọn lựa có 2,3 câu gì đó có đảo ngữ thì chắc chắn là đáp án sẽ nằm trong các câu có đảo ngữ đó.

>> Xem thêm: Chọn một đáp án cho tất cả các câu trắc nghiệm có vi phạm?

Ví dụ 4:

6- Only if you promise to study hard ________ to tutor you.

A. will I agree

B. agree I

C. I agree

D. I will agree

Không cần đọc đề, ta thấy trong 4 chọn lựa có 2 câu đảo ngữ là A và B, áp dụng nguyên tắc này ta biết chắc rằng đáp án sẽ nằm trong 2 câu này nhưng B thì lọaị dễ dàng vì đảo ngữ mà đem nguyên động từ ra như vậy là sai, cuối cùng ta chọn A

Ví dụ 5:

26- __________ you, I’d think twice about that decision. It could be a bad move.

A. If I had been

B. Were I

C. Should I be

D. If I am

– Đọc trước câu hỏi để định hướng nội dung cần tìm trong bài đọc hiểu

Câu hỏi đầu tiên trong đoạn văn thường là câu hỏi về chủ đề, ý chính hoặc tiêu đề phù hợp cho đoạn văn. Nếu thấy câu hỏi loại “Which of the following is the main idea/point/purpose/topic/best title of/for the passage?” xuất hiện đầu tiên trong bài đọc hiểu, bạn đừng trả lời ngay câu hỏi này, mà nên trả lời các câu hỏi tiếp theo trước. Sau khi đã trả lời hết các câu hỏi khác, bạn sẽ biết nội dung chính của bài đọc là gì và có thể trả lời câu hỏi này tốt hơn.

– Trả lời những câu hỏi có từ “định hướng”

Những câu hỏi có từ “định hướng” sẽ cho thí sinh biết câu hỏi là về vấn đề gì, và định hướng cho thí sinh phải tìm thông tin gì trong bài đọc. Từ định hướng thường là những danh từ hoặc cụm danh từ, là những từ in hoa, con số và từ viết tắt.

Ví dụ 6:

Nếu gặp câu hỏi như sau: “According to the passage, Tom was…”, thì cần phải tìm trong đoạn văn nội dung nói về Tom. Như vậy, “Tom” chính là từ định hướng trong câu hỏi này.
Bạn có thể làm theo các bước sau để trả lời câu hỏi này:

♦ Bước 1: Đọc câu hỏi và tìm ra từ “định hướng”

♦ Bước 2: Tìm từ “định hướng” trong đoạn văn

♦ Bước 3: Khi đã tìm ra từ “định hướng”, đọc câu phía trước từ đó và chính câu chứa từ “định hướng”.

♦ Bước 4: Nếu đã tìm ra thông tin, trở lại phần câu hỏi và câu trả lời để tìm câu trả lời gần nhất với thông tin trong đoạn văn.

♦ Bước 5: Nếu không tìm thấy thông tin cần cho câu trả lời, từ “định hướng” có thể xuất hiện trở lại trong phần sau của đoạn văn. Lặp lại bước 2 đến bước 4 mà thí sinh gặp từ “định hướng”.

Nếu từ định hướng xuất hiện 5 đến 6 lần trong đoạn văn thì có thể phải đọc cả đoạn? Bạn không nên làm điều đó mà hãy quay thật nhanh trở lại câu hỏi và chọn một từ “định hướng” khác.

Nếu vẫn chưa tìm được câu trả lời thì có thể câu hỏi này thuộc diện khó. Cách tốt nhất lúc này là bạn nên ghi chú lại và bỏ qua câu hỏi này để làm câu tiếp theo. Nếu đã gần hết giờ thì bạn cứ phỏng đoán và chọn đại một đáp án.

Theo Thethaohangngay