Tag: Sinh học

Thông tin cần biết ngành Sinh học

Thông tin cần biết ngành Sinh học

Sinh viên tốt nghiệp có thể giảng dạy sinh học ở trường ĐH, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và trung học phổ thông; nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực về sinh thái và tài nguyên sinh vật, sinh học thực nghiệm, công nghệ sinh học ở các cơ quan nghiên cứu; làm việc ở các cơ quan quản lý và doanh nghiệp liên quan đến sinh học và môi trường.

Thông tin cần biết ngành Sinh học

Thông tin cần biết ngành Sinh học

Sinh học hay là Sinh vật học là một môn khoa học về sự sống (từ tiếng Anh: biology bắt nguồn từ Hy Lạp với bios là sự sống, và logos là môn học). Nó là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật (ví dụ: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống), cách thức các cá thể và loài tồn tại (ví dụ: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bổ của chúng).

Sự ra đời của Sinh học bắt đầu từ thế kỉ 19, khi các nhà khoa học tìm thấy được các đặc điểm chung cơ bản giữa các loài. Ngày nay, sinh học trở thành một môn học chuẩn và bắt buộc tại các trường học và Đại học trên khắp thế giới, và rất nhiều bài báo được công bố hằng năm ở trên khắp các tạp chí chuyên ngành về y và sinh

Sinh học ngày nay đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu lớn, phức tạp bao gồm nhiều chuyên ngành hẹp. 4 nhóm ngành chính trong Sinh học là:

– Các ngành nghiên cứu cấu trúc cơ bản của hệ thống sống: như tế bào, gene v.v.;
– Nhóm ngành nghiên cứu sự vận hành, hoạt động của các cấu trúc này ở cấp độ mô, cơ quan (organ) và cơ thể (body);
– Nhóm quan tâm đến sinh vật và lịch sử phát triển của các sinh vật;
– Nhóm ngành xem xét các mối quan hệ, tương tác giữa các hệ thống sống.
Tuy nhiên, các ranh giới và phân chia chuyên ngành trên chỉ có tính ước lệ. Trong thực tế, các ranh giới này là không rõ ràng và thường xuyên có sự vay mượn về kỹ thuật, thuật ngữ, nguyên lý chung giữa các chuyên ngành.

Ngành Sinh học được giảng dạy trong các trường đại học nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức đại cương về khoa học tự nhiên, các phương pháp nghiên cứu, những kiến thức cơ bản về sinh học, nguyên lý cơ bản và các quá trình sinh học ở mức độ khác nhau của khoa học sự sống (phân tử, tế bào, cơ quan, cơ thể, quần thể, quần xã); mối quan hệ của chúng với nhau và với môi trường ngoài; những kiến thức cơ sở của ngành và chuyên ngành. Ngành này gồm các chuyên ngành: sinh học động vật, sinh học thực vật, di truyền học, tài nguyên môi trường, vi sinh – sinh học phân tử và sinh hóa.

Một số trường đào tạo ngành sinh học như: Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc Gia Hà Nội và ĐH Quốc gia TPHCM), ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Sư phạm 2, ĐH Cần Thơ…

Cơ hội việc làm:
Sinh viên sau khi tốt nghiệp có đủ khả năng đảm nhận công việc phù hợp với chuyên môn tại bất kỳ nơi nào trong và ngoài nước; làm việc tại viện nghiên cứu, cơ quan quản lý, các bệnh viện, khu công nghiệp tập trung, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, cơ sở sản xuất và kinh doanh có sử dụng kiến thức sinh học.

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Đây là một bài mắc bẫy học sinh vì các gen cùng nằm trên một NST nên số kiểu gen dị hợp của cả 2 cặp ( ngoài trường hợp liên kết đồng AB/ab còn có trường hợp liên kết đối Ab/aB do hoán vị gen).

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Những lỗi cần tránh khi thi THPT Quốc gia môn Sinh

Để tránh mất điểm khi làm bài thi THPT Quốc gia môn Sinh năm 2016, thí sinh cần chú ý những lỗi thường gặp sau:

Theo chia sẻ của cô Phan Thị Phú, trong bài thi Sinh học, thí sinh thường mắc những lỗi khá “ngớ ngẩn”, có thể gây “mất điểm oan”, trong đó có cả lỗi do các em không đọc kỹ đề bài. Vì vậy, ngay trong quá trình ôn tập, các em nên lưu tâm đến những lỗi thông thường để bài thi chính thức đạt kết quả tốt nhất.

Một số lỗi khi đọc đầu bài không kỹ

– Các gen nằm trên các NST khác nhau khác với các gen cùng nằm trên một NST.

– Gen nằm ở ti thể, lập thể hay hệ gen vòng thì các em phải suy ra gen nằm ở tế bào chất nên sẽ tuân theo quy luật di truyền qua tế bào chất (ngoài nhân) chứ không phải theo quy luật trong nhân.

– Gen nằm trên vùng tương đồng của NST X và Y hay đọc nhầm với gen nằm trên vùng không tương đồng của X (không có alen trên Y).

– Mỗi kiểu gen quy định một kiểu hình (tức là hiện tượng trội không hoàn toàn) sẽ khác với trường hợp trội hoàn toàn trong việc tính số kiểu hình và tỉ lệ kiểu hình.

– Nếu bài hỏi tìm số kiểu gen tối đa, tối thiểu mà không nói gen nằm ở vị trí nào trong tế bào thì em phải xác định gen nằm ở vùng tương đồng của X và Y là số kiểu gen nhiều nhất. Còn gen nằm ngoài nhân là số kiểu gen ít nhất.

– Tất cả các tế bào không phân ly trong giảm phân 1(2) khác với trường hợp một số tế bào không phân ly trong giảm phân 1(2).

– Cần chú ý cặp nhiễm sắc thể (NST) giới tính cụ thể của một số loài có khác nhau để áp dụng làm bài tập. Ở gà, chim, tằm, cá … thì cặp NST giới tính của giới đực là XX, giới cái là XY. Còn ở ruồi giấm, động vật thuộc lớp thú thì ngược lại cặp NST giới tính ở giới cái lại là XX, giới đực là XY.

Cô Phan Thị Phú hi vọng rằng, các thí sinh sẽ ôn tập một cách khoa học, giữ tâm lý bình tĩnh, tự tin để tránh mất điểm bởi những lỗi không đáng có khi làm bài và giành điểm cao môn Sinh học trong kỳ thi THPT Quốc gia 2016.

1. Dạng bài tập Phần AND, ARN, nhân đôi AND, phiên mã, dịch mã

Ví dụ: Một plasmit có 104 cặp nuclêôtit tiến hành nhân đội 3 lần, số liên kết cộng hoá trị được hình thành giữa các nuclêôtit của ADN là.

Đây là một plasmit (nằm trong tế bào chất của nhiều loài vi khuẩn) nên chúng có hệ gen dạng vòng. Vì vậy tính số liên kết hóa trị được hình thành trong quá trình nhân đôi thì không thể áp dụng công thức thông thường : HTht = HTgen ( 2n – 1) = ( N- 2) (2n – 1) mà phải tính bằng công thức: N (2n – 1)

a.160000. b.159984. c.139986. d.140000.

Đáp án: d

2. Dạng bài tập quy luật di truyền.

Ví dụ 1. Cho biết A trội hoàn toàn so với a. Lấy hạt phấn của cây tam bội Aaa thụ phấn cho cây tứ bội Aaaa, nếu hạt phấn lưỡng bội không có khả năng thụ tinh thì tỉ lệ kiểu hình ở đời con là:

a.3 : 1. b.8 : 1. c .11 : 1. d .9 : 1.

Các em sẽ giải bài toán với 2 sự chú ý sau:

– Hạt phấn lưỡng bội (2n) không có khả năng thụ tinh thì sau khi em viết giao tử được tạo ra của cơ thể tam bội gồm n và 2n thì em phải cho giao tử 2n bị chết, sau đó chia lại tỉ lệ của các giao tử còn lại tham gia thụ tinh 2/3 a : 1/3 A.

– Khi đọc kết quả bài toán phải chính xác. Với bài này các em tìm tỉ lệ kiểu hình lặn = 1/9; kết quả là 8 trội: 1 lặn chứ không phải là 9 trội: 1 lặn

Đáp án: b

Ví dụ 2. Một cặp vợ chồng đều có nhóm máu A và đều có kiểu gen dị hợp về tính trạng nhóm máu. Nếu họ sinh hai đứa con thì xác xuất để 1 đứa có nhóm máu A và một đứa có nhóm màu O là:

a.3/8 b.3/16 c.1/2 d.1/4

Với bài này đề yêu cầu chỉ cần 1 đứa con nhóm máu A và một 1 đứa con nhóm máu O, chứ không bắt buộc đứa con đầu phải mang nhóm máu A và đứa con sau phải mang nhóm máu O. Vì vậy sẽ có 2 trường hợp xảy ra. Và họ đều là con của một cặp bố mẹ nên chúng ta chỉ lấy sắc xuất 1 lần của bố và mẹ cho cùng cả 2 đứa trẻ.

Kết quả bài toán: (xác suất của bố ) x (xác suất của mẹ ) x (xác suất của 2 con).

1.1 . [ ( 3/4 .1/4) .2] = 3/8.

Đáp án: a

Ví dụ 3. Ở tằm, hai gen A và B cùng nằm trên một nhóm gen liên kết cách nhau 20cM. Ở phép lai ♀ABab × ♂ AbaB , kiểu gen abab của đời con có tỉ lệ

a.0,05. b.0,01. c.0,04. d.0,00.

Các em vẫn quen làm bài tập sự hoán vị gen xảy ra ở con ruồi giấm cái. Tuy nhiên trong SGK đơn cử ví dụ về con tằm trong bài 12 thì các em phải chú ý sự hoán vị gen lại xảy ra ở con tằm đực (có cặp NST gới tính là XX) .

Đáp án: a

Ví dụ 4. Gen A và B cùng nằm trên một cặp NST thường, trong đó gen A có 5 alen, gen B có 3 alen. Số kiểu gen dị hợp về cả hai gen là.

a.30. b.105. c.45. d.60.

Đây là một bài mắc bẫy học sinh vì các gen cùng nằm trên một NST nên số kiểu gen dị hợp của cả 2 cặp ( ngoài trường hợp liên kết đồng AB/ab còn có trường hợp liên kết đối Ab/aB do hoán vị gen).

Kết quả bài toán trên là: (C25 . C23.).2 = 60

3. Dạng bài tập di truyền quần thể

Ví dụ. Ở người, tính trạng nhóm máu ABO do một gen cỏ alen IA, IB, IO quy định. Trong một quần thể đan cân bằng về di truyền có 25% số người mang nhóm máu O; 39% số người mang nhóm máu B. Một vặp vợ chồng đều mang nhóm máu A sinh người con, xác suất để đứa con này mang nhóm máu giống bố mẹ.

a.25144 b.119144 c.1924 d.34

Với bài này các em dễ dàng tính được p(IA) = 0,2 ; q(IB) = 0,3 ; r(IO) = 0,5.

Để tìm được xác suất đứa con này mang nhóm máu giống bố mẹ, ta có 100% – (xác suất đứa con này mang nhóm máu khác bố mẹ bố mẹ).

Muốn vậy phải tìm được xác suất người cha mà người mẹ đều có kiểu gen IAIO trong tổng số người mang nhóm máu A chứ không phải tìm trong tổng quần thể. Vì người cha và mẹ đã sinh ra đời và đầu bài đã khẳng định là nhóm máu A.

– Kết quả bài toán: 100% – ( 5/6 bố . 5/6 mẹ . 1/4 con) = 119/144

Đáp án: b

Theo Thethaohangngay